Thứ Bảy, ngày 16 tháng 2 năm 2013

Về Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn Văn Bình


Mấy hôm trước nhân đọc một bài phỏng vấn thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình tôi thắc mắc trên G+ về ngân hàng MIB ở Nga, nơi ông Bình từng làm phó rồi quyền chủ tịch trong giai đoạn 2001-2005. Thực ra thông tin về việc thống đốc từng có thời làm việc ở MIB đã được công bố khi ông vừa được chỉ định làm thống đốc tháng 8/2011. Lúc đó tôi cũng thắc mắc về ngân hàng MIB nhưng rồi bận quá nên quên mất. Lần này thống đốc nhắc lại thời gian làm quyền chủ tịch MIB như là bằng chứng cho thấy ông có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng nên tôi nhớ đến cái thắc mắc của mình ngày xưa và quyết định tìm hiểu kỹ hơn.
Hỏi trên G+ hôm trước hôm sau đã có mấy bạn cung cấp thông tin, social network quả là lợi hại :-)Thông tin đầu tiên về MIB hoá ra lại ở trên chính website của NHNN. Theo link này MIB (và MBES) là ngân hàng được thành lập trong khuôn khổ Comecon giữa các nước trong khối XNCH từ những năm 1960-1970. Tất nhiên “ngân hàng” ở thời đó khác rất xa những ngân hàng thương mại hiện nay, hoạt động cho vay chủ yếu có tính chất giúp đỡ, tương trợ chứ không vì mục đích kinh doanh. Sau khi khối XHCN (ở Đông Âu) sụp đổ và Comecon tan rã, cả MIB (lẫn MBES) đều phải loay hoay tìm đường cải tổ. Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất để hai ngân hàng này còn tồn tại là trên danh nghĩa một số nước XHCN trước đây vẫn còn nợ nên phải có người tiếp quản xử lý số nợ tồn đọng đó. Tôi sẽ phân tích kỹ thêm chi tiết này nhưng trước hết có một điểm thú vị liên quan đến trang web có thông tin về MIB và MBIS nói trên.
Khi click trực tiếp link thì có vẻ phần highlight ở menu bên trái cho thấy nó phải nằm trong mục “Quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế“. Một bản tin năm 2008 và một bản tin khác năm 2010của chính NHNN cũng xếp MIB/MBES tương đương với IMF/WB/ADB như là những tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế. Nhưng nếu bạn click thẳng vào menu này thì bạn không thể tìm được trang về MIB và MBES mà chỉ có link đến IMF, WB, ADB. Như vậy có lẽ trang về MIB/MBES trước đây nằm trong menu “Quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế” nhưng bây giờ đã bị xóa. Tìm kỹ hơn thì hóa ra trang này hiện giờ được chuyển sang menu “Quan hệ song phương“, được giấu khá kỹ trong danh sách các nước có quan hệ song phương với NHNN. Có lẽ MIB/MBES bị “downgrade” khoảng năm 2009-2010, khi mà Báo cáo thường niên của NHNN không còn nhắc đến 2 tổ chức này như những năm trước nữa. Tại sao MIB/MBES lại bị “downgrade” như vậy? Có phải NHNN muốn thông tin về 2 tổ chức này bị quên lãng dần đi không?
Thông tin thứ hai mà một bạn cung cấp cho tôi trên G+ là link đến chính website của ngân hàng MIB hiện tại. Chữ MIB là viết tắt tiếng Nga, còn tên tiếng Anh là International Investment Bank. Ngân hàng này có status tương tự như WB, nghĩa là một ngân hàng quốc tế có cổ phần đóng góp từ các nước thành viên. Hiện tại MIB chỉ còn Nga, Ba lan, Hungari, Bungari, Mông cổ, Cu ba, Rumani, Sec, Slovakia, và VN. Theo báo cáo tài chính cuối cùng năm 2011 (bản tiếng Anh) Nga nắm 44.7% cổ phần, VN chỉ có 0.327% thấp nhất trong số các thành viên (sau cả Mông cổ, Cu ba). Vốn điều lệ của ngân hàng này là 1.3 tỷ Euro, tuy nhiên cho đến cuối năm 2011 các cổ đông mới chỉ đóng góp vào 214.5 triệu Euro (tôi nghi đây là chuyển đổi từ tiền rúp của LX cũ). Mặc dù ngân hàng này được phép huy động vốn từ các nguồn khác như trái phiếu, tiền gửi của khách hàng…, trong 3 năm liên tục từ 2009 đến 2011 tất cả các thể loại liabilities của nó chỉ quanh quẩn 8-9 triệu Euro. Hệ quả là tổng tài sản không tăng, thậm chí giảm, nếu không tính phần revaluation tài sản cố định và bất động sản.
Đến cuối năm 2011 trong số tổng tài sản 350 triệu Euro ngân hàng này có đến 130 triệu cash hoặc bank deposits, nghĩa là 1/3 tài sản chẳng được đầu tư gì mà để không hoặc gửi các ngân hàng khác lấy lãi. Hơn 50 triệu Euro được đầu tư vào bất động sản, gần 50 triệu nữa là tài sản cố định. Hơn 68 triệu đầu tư vào các loại trái phiếu, một nửa là trái phiếu chính phủ của các thành viên còn lại là trái phiếu doanh nghiệp. Khoảng hơn 2 triệu Euro nữa đầu tư vào cổ phiếu. Số tiền thực sự cho khách hàng vay chỉ là 50 triệu Euro mà lại có xu hướng giảm dần từ năm 2009 (xem kỹ trong footnote hoá ra đây là net amount, tổng số tiền MIB cho khách hàng vay đến cuối năm 2011 là 125 triệu Euro, trong đó có hơn 74 triệu đã bị coi là NPL, nghĩa là tỷ lệ nợ xấu xấp xỉ 60%). Với cơ cấu tài sản như vậy có thể nói ngân hàng này thực chất chỉ là một quĩ đầu tư cỡ trung bình (chỉ một quĩ con của Vinacapital cũng có thể có NAV lớn hơn 350 triệu Euro). Tôi cho rằng đa số tài sản là phần rơi rớt lại từ thời Comecon, trong đó Cu ba có một số nợ xấu khá lớn.
Rất tiếc website của MIB không cung cấp báo cáo tài chính những năm ông Bình còn làm việc ở đó. Nhưng không khó để đoán hoạt động của MIB lúc đó cũng không khác hiện tại là mấy, nghĩa là chủ yếu quản lý số tài sản do các nước Comecon cũ còn nợ. Hoạt động kinh doanh, đầu tư hầu như không đáng kể. Các board member của MIB có lẽ chỉ là đại điện cho các quốc gia thành viên, chủ yếu đi đòi nợ xấu từ thời XHCN. Nếu (thời ông Bình) có các cố gắng cải tổ lại MIB thành một ngân hàng đầu tư quốc tế như website NHNN cho biết thì các cố gắng đó dường như đã thất bại. Ông Bình được làm phó chủ tịch rồi quyền chủ tịch trong khi VN chỉ có 0.327% cổ phần cho thấy các nước khác không coi trọng vai trò (và lợi ích) của ngân hàng này.
Số cổ phần ít ỏi của VN chỉ tương được với 700 nghìn Euro vốn góp, hoặc hơn 1 triệu Euro vốn chủ sở hữu trên sổ sách. Phần lợi nhuận trên sổ sách năm 2011 mà phía VN được hưởng (1.65 triệu x 0.327%) chỉ hơn 5000 Euro mà chưa chắc sẽ được MIB chia (thực tế MIB có cash flow âm trong năm 2011 và không chia dividend). Như vậy đóng góp của ngân hàng này vào ngân sách VN (nếu có) thậm chí còn nhỏ hơn của một công ty nhỏ ở VN (5000 Euro chỉ tương đương gần 140 triệu VND). Nếu tôi là ông Bình tôi sẽ đề nghị chính phủ “biếu không” phần sở hữu của VN cho Cuba để giúp người bạn cũ này trong lúc khốn khó, vừa đỡ cứ vài năm lại phải cử một cán bộ sang Nga tham gia quản lý MIB (hiện tại đại diện cho VN trong board là bà Thinh Thi Hong). Với một ngân hàng như vậy tôi không nghĩ ông Bình học hỏi được nhiều kinh nghiệm và chuyên môn ngân hàng, nhất là chuyên môn về ngân hàng trung ương, kể cả khi đảm nhiệm chức vụ quyền chủ tịch. Đây là một mục trong CV mà đáng ra ông Bình không nên tự hào và đem ra PR cho mình như vậy.
Ông Bình xuất thân từ vụ Kinh tế đối ngoại (sau này chuyển thành vụ Quan hệ quốc tế phụ trách các hoạt động liên quan đến IMF/WB/ADB/MIB/MBES) nên có thể hiểu tại sao ông lại được lãnh đạo NHNN cử đi Nga tham gia vào board của MIB, một tổ chức đã từng được coi ngang hàng với IMF/WB/ADB. Ông Bình được cử đi Nga có lẽ còn vì ông đã từng học ở Nga. Xem tiểu sử chính thứcthấy học vị của ông là Tiến sĩ khoa học, không thấy ghi ngành gì. Tiểu sử trên Wikipedia của ông ghi “Từ 1981-1986, ông Bình học Đại học Toán Kinh tế- Ứng dụng tại Trường Đại học Tổng hợp tại Liên Xô (cũ), tốt nghiệp tại đây với bằng tiến sĩ”, không thấy tên trường. Lúc đầu tôi nghĩ ông học MGU (vẫn thường biết đến ở VN với cái tên Lomonosov) hoặc có thể Plekhanov ở Moscow, là hai trường rất lớn và danh giá của LX cũ. Tuy nhiên search Google thìcó thông tin ông học trường Đại học tổng hợp Kishinhov (KGU) ở Mondovia, một nước cộng hoà nhỏ của LX. Thông tin ở đây cho biết ông học ngành toán ứng dụng, còn trên Wikipedia nói ông học toán kinh tế.
Một điểm chưa thực sự rõ là ông Bình tốt nghiệp KGU với bằng gì. Theo lý lịch chính thức thì ông có bằng tiến sĩ khoa học, đây là bằng docktor nayuk của LX cũ. Bằng này cao hơn bằng kandidate nayuk (phó tiến sĩ trước đây, bây giờ gọi chung là tiến sĩ). Những ai đã từng học ở LX cũ chắc chắn biến lấy bằng tiến sĩ khoa học rất khó, ngay cả sau này trong giai đoạn lộn xộn LX sụp đổ trong thập kỷ 1990. Nếu ông Bình lấy bằng tiến sĩ khoa học (doctor nayuk) vào năm 1986 mà ông chỉ bắt đầu sang KGU học từ năm 1981 có thể nói là một kỳ tích hiếm ai làm được. Tuy nhiên cả thông tin từ website của hội sinh viên KGU lẫn chính lời ông Bình (“Tôi đã gắn bó với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong toàn bộ quá trình công tác của mình kể từ khi tốt nghiệp đại học“) cho thấy ông chỉ tốt nghiệp đại học tại KGU năm 1986. Vậy ông lấy bằng phó tiến sĩ, tiến sĩ năm nào, ở đâu, chuyên ngành gì?
Thống đốc Nguyễn Văn Bình sinh năm 1961 năm 1981 vào học ở KGU vậy từ năm 17 tuổi (tốt nghiệp lớp 10 hệ 10 năm hồi đó) đến năm 20 tuổi ông ở đâu, làm gì? Đi nghĩa vụ quân sự? Học một trường đại học/trung cấp nào đó ở VN hay một nước nào khác? Giai đoạn 1978-1981 VN có chiến tranh ở Campuchia và biên giới với TQ, thanh niên tốt nghiệp phổ thông thời đó nếu không thi đậu đại học phần lớn sẽ vào lính ra chiến trường. Tiểu sử của ông Bình không thấy nói đã từng phục vụ trong quân đội, mà cũng không học đại học trong 3 năm đó vậy ông Bình thuộc diện nào mà được miễn nghĩa vụ quân sự?
Trong bài phỏng vấn ông Bình nói có một giai đoạn ông làm trung gian giữa các lãnh đạo NHNN và phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đó kiêm nghiệm chức thống đốc. Thực ra ông Dũng về NHNN (mà nhiều người tin rằng là bước đệm để giúp đưa ông Lê Đức Thúy lên thống đốc) từ tháng 5/1998. Ông Bình đến tháng 11/1998 “được” điều sang làm phó giám đốc chi nhánh HN của NHNN. Như vậy thời gian ông Dũng và ông Bình cùng làm việc chỉ khoảng 5 tháng, chưa kể thời gian làm quen rồi bàn giao, nên không thể nói là nhiều. Một thành tích mà ông Bình khoe là đã tự “chắp bút” một phương án điều hành tỷ giá và phương án đó đã được ông Dũng chọn thay vì những phương án khác của các phòng ban nghiệp vụ (ông Bình làm chánh văn phòng không được coi là một phòng ban nghiệp vụ). Nhưng cũng chính vì “thành tích” này mà ông Bình bị một số lãnh đạo của NHNN lúc đó “tỏ ý không hài lòng”, chẳng hiểu có phải vì thế mà ông Bình chỉ ngồi ở vị trí rất thân cận với ông Dũng trong vòng 5 tháng hay không.
Sau khi trở về từ ngân hàng MIB, ông Bình giữ chức vụ Chánh Thanh tra của NHNN từ 2005 đến 2008. Đây là giai đoạn hệ thống ngân hàng thương mại VN bùng nổ, tăng trưởng tín dụng có những năm xấp xỉ 50%. Trên thực tế một phần rất lớn tín dụng chảy vào chứng khoán và bất động sản tạo ra bong bóng trong những lĩnh vực này mà hiện nay trở thành vấn nạn nợ xấu mà ông Bình đang loay hoay tìm cách xử lý. Trên cương vị Chánh Thanh tra lúc đó, nếu ông Bình mạnh tay với các ngân hàng, sớm phát hiện ra những thủ thuật như tuồn tín dụng cho các công ty sân sau, sở hữu chéo giữa các ngân hàng, thổi giá trị tài sản thế chấp… thì có lẽ hệ thống ngân hàng đã không tệ như hiện tại. Tất nhiên việc phát hiện sai phạm trong giới ngân hàng không hề dễ, nhưng dù sao Chánh Thanh tra phải chịu trách nhiệm nếu đã để các ngân hàng qua mặt. Nhưng tôi biết đòi hỏi “chịu trách nhiệm” trong hệ thống chính trị VN là một điều khá xa xỉ.
Disclaimer: Tôi chưa từng gặp ông Nguyễn Văn Bình và không có bất kỳ quyền lợi hay interest nào ở NHNN, ngoại trừ mong muốn nó tốt lên. Tôi viết bài phân tích này với tư cách một người ngoài cuộc có chút chuyên môn (và cặp mắt “cú vọ” :-) ) nhân đọc bài phỏng vấn có tính chất PR của ông Bình. Thông tin sử dụng trong bài này lấy từ các websites có links bên trên vào thời điểm tháng 2/2013.
Giang Lê

Tại sao vậy?


..Dân Việt Nam dễ tính lắm. Ai làm chủ tịch nước, ai làm Thủ tưởng cũng được miễn là bào đảm cho dân có đời sống vật chất và tinh thần ổn định, tức là có cơm ăn áo mặc, con cái họ được học hành tử tế và có thể nối dõi xứng đáng. Đất nước trường tồn, nhân dân “vạn đại”, chứ “quan thì nhất thời” thôi. Ai có thể nối mãi đời làm quan, mà quan không có dân thì quan với ai ?
Có ánh sáng ban ngày thì mới biết bóng tối ban đêm. Chuyện đơn giản. Dân Việt Nam ta trong thời điểm này có lẽ “không cần” và “không chịu nổi” “một bộ phận không nhỏ” lãnh đạo, làm quan, tham nhũng, nhũng nhiễu dân chúng…làm khổ dân. Dân ta chịu hi sinh mất mát quá nhiều, chịu khổ ải quá nhiều. đã đến lúc dân ta muốn có ” Độc lâp, tự do” thật sự, có dân chủ, bình đẳng, đoàn kết, thương yêu thật sự, chứ không hề muỗn tồn tại sự lừa dối, dối trá, lập lờ đánh lận con đen mãi nữa. Xã hội Việt Nam từ hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, thăng trầm, sung sướng, đau khổ đã từng, mỗi người dân đều muốn có một đời sống cho ra sống, không bị bất kỳ một ai áp bức, ức hiếp họ, không bị một ai cậy quyền cậy thế áp bức họ, không bị bất kỳ một ai cây giầu có khinh miệt họ. Vậy mà những điều mong ước vô cùng đơn giản ấy vẫn chưa được thực hiện.
Từ trước Tết và hiện nay, trên hệ thống báo chí thông tin, kể cả báo của Đảng, Nhà nước, báo mạng điện tử, báo miệng, kể cả TTX chính thức lẫn TTX vỉa hè, tất cả đều chúi mũi nói về các vấn đề xã hội đang diễn ra có mặt được và nhiều mặt chưa được, có cái tạm thời yên tâm, có cái chưa bằng lòng và có nhiều cái bức xúc. Mang tiếng một xã hội do Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối, mà sao ngày nào cũng có người chết và bị thương về tai nạn giao thông, chỗ nào cũng có tham nhũng, ăn cắp, ăn cướp, chụp giựt, lừa đảo, mảnh đất nào cũng phân biệt giầu nghèovà theo thống kê chưa đầy đủ có đến 30 vạn gái điếm chuyên nghiệp, có đến 30 vạn gái chưa chồng phải đi nước ngoài như Hàn Quốc, Đài Loan chẳng hạn lấy chồng ? Một xã hội mà đã và đang sinh ra một lớp người “ngồi mát ăn bát vàng”, tiêu không bao giờ hết tiền, ăn không bao giờ hết gạo, ở không bao giờ hết nhà, và…chơi không bao giờ hết gái, lại gái vào loại sang, loại thơm tho, trị giá mỗi lần “ấy” hàng nghìn đô-la !
Tại sao vậy ? Hiện nay, ai lãnh đạo đất nước Việt Nam ta? Mà tại sao, dân ta vẫn hằng ngày chứng kiến bao nhiêu điều chướng tai gai mắt, chứng kiến bao nhiêu là tội ác xảy ra trên rất nhiều địa bàn, rất nhiều lĩnh vực?Xưa ta quen đổ tội cho đế quốc phong kiến, nay thì kết tội cho ai ? Gần 30 vạn phụ nứ phải làm “gái điếm” chắc cũng đổ tại “đế quốc phong kiến” để lại ?
Nhà nước (đứng trên Nhà nước là Đảng, chí ít cũng là “Bộ Chính trị”) phát động toàn dân góp ý kiến xây dựng Hiến pháp 2013 trên cơ sở sửa đối Hiến pháp 1992. Nhưng dân biết gì về Hiến pháp mà góp ý ? Đến góp ý vào công việc của HĐND xã cũng chẳng có ai nghe, mọi việc vấn đâu đóng đấy, thì “góp ý sửa đổi Hiến pháp” e rằng công việc vĩ đại quá, người dân biết gì mà dám góp ý. Góp đúng với ý nghĩ và nguyện vọng của mình thì sợ “vào tù”, vợ tuyên bố không mang cơm tù được. Mà góp ý bằng cách nói theo người khác thì không muốn làm “cái đuôi”, không muốn “ăn bám nói leo”. Lại có một nhóm trí thức đệ trình kiến nghị, có cả việc soạn thảo bản “Hiến pháp” mới, nhưng vẫn bị rơi vào “im lặng đáng sợ”, vậy thì người dân làm sao góp được ý kiến ? Một nửa chặng đường “góp ý” đã trôi qua, mà ở cơ sở xã, phường, chưa thấy “động chạm” gì. Vì vậy, sự góp ý chắc rồi cũng chẳng đâu vào đâu. Nhưng chắc chắn sẽ có một bản tổng kết kêu vang vang, giống như bản báo cáo của Mặt trận tổng hợp ý kiến cử tri mỗi kỳ họp HĐND xã. Kết cục, vẫn mất dân chủ, vẫn ô nhiễm môi trường, vần cướp đất, vẫn đề ra đủ loại phí đè lên cổ người nông dân và vẫn…
Ông Vũ Mão, tôi được biết ông ấy từ khi làm Trưởng Ty thuỷ lợi tỉnh Quảng Ninh, sau này thăng tiến nhiều, nay hưu rồi có đề nghị “Luật về Đảng” Theo ông Vũ Mão, Luật về đảng do ai soạn, ai thông qua và xin ý kiến ai để được thông qua. Điều này, chắc ông biết rõ. Và cuối cùng vẫn là “Bộ Chính trị” cho ý kiến. Cũng như ở xã tôi, cái gì cũng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ” mà nhiều khi đảng uỷ chưa biết. Ngay cả đến cho trẻ con uống thuốc định kỳ hàng tháng, cũng có sự chỉ đạo của Đảng uỷ..Xã xây dựng khôi phục một ngôi đình cũ.Hôm làm lễ chồng nóc, ông Trưởng ban xây dựng nhất thiết mời ông bí thư đảng uỷ 49 tuổi trèo lên chồng nóc vì đã có nghị quyết của đảng uỷ. Một cụ già 90 tuổi nổi nóng: “Thế làng này chết hết bô lão rồi hay sao ?”
Thế thì Luật về “Điều 4 của Hiến Pháp”, tức là về Đảng, thì sinh ra cái luật ấy làm gì. Tôi là một người dân, lại là một người dân đã “cổ lai hi”. Đất nước và nhân dân rất cần có người lãnh đạo, không thể sống vô chính phủ, nhưng thế nào là lãnh đạo và lãnh đạo phải như thế nào? Làm lãnh đạo mà mang lại lợi ích cho dân thì ít, mà tham nhũng thì nhiều, quan liêu, hống hách thì lắm, chỉ tổ làm khổ dân mà thôi. Dân là những người chịu rất nhiều tầng “cai trị” biết nói ai nghe và biết trông cậy vào ai ? Trông cậy vào lãnh đạo chứ trông cậy vào ai ?
Mà lãnh đạo ngày nay thì như mọi người đã biết có một “bộ phận không nhỏ” suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, độc quyền, độc đoán, và thậm chí độc ác nữa, ôi dân biết bấu víu vào đâu ?
Vì thế, mọi chuyện đơn giản thôi, nhưng người ta cứ làm cho nó phức tạp lên, rắc rối thêm. Nếu dân bầy tỏ nguyện vọng không cần có Đảng lãnh đạo nữa, Đảng nên chấm dứt vai trò đi, vì đảng không còn xứng đáng nữa, thì đảng cũng nên tự nguyện rút khỏi chính trường, để dân bầu ra người đứng đàu Nhà nước, đứng đầu chính phủ, việc gì lại cứ phải sinh ra Đảng to hơn tất cả, quyết định tất cả là cớ gì. Dân không lo Đảng tồn tại hay không tồn tại (thế giới bây giờ còn nhiều Đảng “cầm quyền” tồn tại đâu) mà chỉ lo, lo ngày lo đêm là lo mất nước, lo bị xâm lược mà không đủ lực lượng và sức mạnh để chiến thắng xâm lược mà thôi. Dân ai cũng muốn giầu có, sung túc, yên ổn làm ăn và làm giầu, nhưng không có tham nhũng, không có cướp bóc, trộm cắp, vơ vét của dân, sống trên lưng nhân dân. Trí tuệ, mồ hôi, công sức của nhân dân bỏ ra phải được Chính phủ quản lý và phân phối lại đầy đủ cho dân, chứ không phải để cho một bộ phận, một nhóm lợi ích nào cướp hết cả rồi “thí” cho dân bao nhiêu biết bấy nhiêu.
Đầu năm “Con Rắn” bộc bạch đôi điều với Nhà văn thế thôi. Cũng là tâm huyết đấy, chứ không phải lời lẽ của “những thế lực thù địch” đâu./.
Nguyễn Thanh

Thứ Sáu, ngày 15 tháng 2 năm 2013

Cứ kiên trì, rồi mùa hoa trái sẽ tới

Sau khi kinh tế xã hội rơi vào vòng khó khăn, chúng ta cần nhìn lại để biết đâu là “gót chân Achilles” của chính mình. Sự phát triển và trưởng thành của một dân tộc luôn từ những cuộc tự vấn. Qua câu chuyện với nhà báo Lê Ngọc Sơn, nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn có những tâm sự đầu năm với các bạn sinh viên, theo ông, có nhìn lại bản thân mình thì mới sinh tồn được qua những khó khăn phía trước.
CHUYỆN “HẠ TẦNG KIẾN THỨC”
Lê Ngọc Sơn : Thưa ông, vì sao ông đi dịch những cuốn sách triết học đồ sộ và kinh điển của thế giới?!
Bùi Văn Nam Sơn : Thực ra tôi già rồi, thời gian của tôi không còn nhiều nữa, tôi chỉ cố gắng làm cái gì trong khả năng của tôi thôi. Tôi tự đặt ra cho mình nhiệm vụ chính bây giờ là dịch một số các tác phẩm kinh điển sang tiếng Việt. Vì lẽ, thứ nhất, những quyển sách dạng này khô khan chẳng ai thèm dịch; thứ hai, nếu không dịch những quyển này thì không biết bao giờ người ta mới dịch… trong khi đó là những nền tảng cho các anh em trong chuyên ngành. Nhìn vào thư viện của Việt Nam mình, chưa thấy có mấy sách kinh điển của nhân loại, tôi thấy buồn lắm. Thành thực mà nói, không thể đòi một bạn sinh viên đọc tiếng Anh hay các ngoại ngữ khác vèo vèo như đọc tiếng Việt được. Vả lại, quả là không công bằng! Một người cùng trang lứa với các bạn sinh viên của ta, như những sinh viên ở Pháp, Mỹ, Đức, Nhật… thì họ dùng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, họ đỡ vất vả hơn nhiều lắm. Bây giờ đòi hỏi những bạn cử nhân mới 23 tuổi ngồi đọc một cuốn sách kinh điển dày cộp bằng tiếng Anh, thậm chí bằng tiếng Đức… làm sao mà đọc nổi… Đâu phải sinh viên Mỹ nào cũng đọc được tiếng Đức, hay sinh viên Pháp nào cũng đọc được tiếng Anh thông thạo… Thế mà họ vẫn thành công, vì họ sử dụng các bản dịch có chất lượng, và các công trình nghiên cứu của họ vẫn đạt được trình độ quốc tế.
Ở Việt Nam, ít ai làm việc dịch thuật, thế nên gánh nặng đè lên vai những anh em trẻ. Lứa tuổi 18-25 phải gánh cả một gánh nặng, vừa học kiến thức, vừa học ngoại ngữ. Do trở ngại về ngôn ngữ, mình khó có thể nắm vững vấn đề và tra cứu đến nơi đến chốn. Điều đó không phải lỗi của thế hệ trẻ, đó là lỗi của thế hệ đi trước, như chúng tôi, không kịp chuẩn bị tư liệu nền cho các bạn. Thật là quá cực, quá tội cho các bạn! Còn việc chúng ta phải nỗ lực học ngoại ngữ lại là chuyện khác! Khi tiếng Anh đã trở thành một lingua franca trong khoa học, việc đọc, viết, nói thành thạo tiếng Anh trong các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật là một yêu cầu hiển nhiên. Trong các ngành khoa học xã hội-nhân văn, còn cần thêm nhiều ngoại ngữ lẫn cổ ngữ khác nữa, nhưng vấn đề nói ở đây là không thể đòi hỏi những gì bất khả thi và quá sức…
Lê Ngọc Sơn : Thời sinh viên của ông ắt hẳn thấm thía nỗi vất vả này lắm?
Bùi Văn Nam Sơn : Đúng. Thời sinh viên, tôi cũng đã rất “đau khổ” vì thiếu sách tiếng Việt. Năm 21 tuổi, tôi sang Đức học, sau khi học xong cử nhân ngành Triết ở Sài Gòn, lúc đó tự thấy vốn liếng chữ nghĩa cũng kha khá rồi… Khi sang đó thì từ bậc cử nhân cho đến tiến sĩ, từ người mới vào trường đến người sắp ra trường đều có thể học chung một lớp. Lớp của tôi có mấy ông bạn người Nhật Bản, người Hàn Quốc… Lúc đó các bạn Hàn Quốc cũng khổ sở, vật vã như mình, vì nước họ có rất ít những bản dịch ra tiếng Hàn, và cũng như tôi, chưa thể đọc tiếng Đức thành thạo được. Trong khi đó mấy chàng Nhật Bản còn trẻ măng, mới 19 tuổi, vừa học xong tú tài, lại tỏ ra am hiểu và tự tin lắm ! Tôi kinh ngạc, thì các bạn ấy mới mở túi cho xem một đống sách toàn tiếng Nhật : những bản dịch Hegel, Kant, Heidegger…, sách tham khảo, từ điển. Mình mất cả năm vật lộn với một cuốn sách, họ chỉ cần vài tháng là đọc xong. Thời gian mình đầu tư cho chuyện đọc đã quá mất sức rồi, làm sao có thể suy nghĩ hay tìm tòi thêm được cái gì mới nữa. Khoảng cách về điều kiện nghiên cứu giữa mình với người Nhật thật rõ rệt !
Riêng trong lĩnh vực triết học, sách vở mênh mông, còn số dịch giả thì đếm trên đầu ngón tay… Lẽ ra cần cả một thế hệ chuẩn bị nền móng, cho các bạn trẻ sau này đỡ cực hơn. Tất nhiên, ý nghĩa của việc dịch thuật không phải chỉ có thế. Nó còn góp phần xây dựng ngôn ngữ khoa học cho một đất nước, đem ánh sáng khai minh đến cho số đông để cải hóa xã hội, như nhiều bài viết mới đây của quý Thầy Nguyễn Xuân Xanh, Nguyễn Văn Tuấn, Trần Văn Thọ… đã nhấn mạnh.
Lê Ngọc Sơn :  Vậy cho đến nay, so với các nước trong khu vực, chúng ta đang thế nào, thưa ông?
Bùi Văn Nam Sơn : Cách đây chừng 5-7 năm, chính ông bạn người Hàn Quốc ngày xưa học chung với tôi, về dạy ở Đại học Seoul, viết thư kể cho tôi nghe : ông và thế hệ trước đó, từ những năm 1970 trở đi đã bắt tay vào dịch sách vở cho Hàn Quốc. Hầu hết những tác phẩm kinh điển quan trọng từ tiếng Đức đã được dịch sang tiếng Hàn, hết toàn tập này đến toàn tập khác, mà mỗi toàn tập của một tác giả thì có đến 40-50 tập. Tôi rất kinh ngạc về sức làm việc của họ. 40 năm thôi, nhưng với trách nhiệm với đất nước và đàn em, họ quyết tâm làm được việc lớn như thế. Vậy thì ngày hôm nay, làm sao sinh viên của ta có thể “đấu” lại được một sinh viên Hàn Quốc, trong khi cách đây 40 năm, anh sinh viên này cũng vất vả y như mình. Khoảng cách đó thật khủng khiếp !
Việc học hành nghiêm chỉnh, tiếp thu có hệ thống đã là thách đố ghê gớm, và cái đó cần nhiều thế hệ mới vượt qua được, ít nhất cũng là 30-40 năm như Hàn Quốc. Chúng ta đừng vội nói gì cao xa, sách vở đàng hoàng là nền móng cơ bản nhất của nền học vấn và của nền đại học.
Lê Ngọc Sơn : Vì sao chúng ta không làm được như những nước ở gần mình như Nhật, như Hàn? Và ông có thấy được cuộc đua tranh trên thế giới về mặt tri thức đang diễn ra rất quyết liệt?
Bùi Văn Nam Sơn : Chúng ta thiếu tính tổ chức, thiếu khả năng làm việc tập thể và một kế hoạch trường kì của cả một tầng lớp, của cả một thế hệ. Mỗi thế hệ phải thấy trách nhiệm lịch sử của mình, thấy tình trạng khách quan đặt ra cho mình gánh nặng nào, và họ phải giải quyết một cách thông minh nhất, ít tốn sức nhất, với sự bền bỉ và quyết tâm. Thế hệ sau thừa hưởng và nối tiếp thành quả của những người đi trước, thì nền học thuật cứ thế đi lên thôi.
Tôi được cho biết rằng ở Nhật, những tạp chí khoa học chuyên ngành trên thế giới hầu như lập tức được dịch sang tiếng Nhật, vì họ có nhu cầu cạnh tranh. Nếu không theo kịp thông tin mới, làm sao có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới, làm sao bắt kịp trình độ quốc tế để đi dự hội thảo khoa học?
Trở lại tình cảnh của ta, cơ sở hạ tầng về kiến thức là phần rất chểnh mảng. Cái cơ bản nhất thì lại bị xem nhẹ… Bây giờ cứ hô hào sinh viên sáng tạo đi, có công trình đột phá đi, hãy phản biện đi… Nhưng phải biết người ta đã viết gì, nghĩ gì, ta mới phản biện và có ý kiến riêng được chứ !
SỬA SOẠN TINH THẦN, CHUẨN BỊ YÊN CƯƠNG
Lê Ngọc Sơn : Trong quan niệm của ông, một bạn sinh viên phải thế nào ?
Bùi Văn Nam Sơn : Theo tôi, thời gian được học đại học là quãng thời gian đẹp nhất, quý nhất của một đời người. Khi ta đang ở trong quãng thời gian đó, thường không thấy quý đâu, nhưng sau này nhìn lại mới thấy đây là thời gian quý nhất, “sướng” nhất. Được trở thành sinh viên là một bước ngoặt. Chữ “sinh viên” khác về chất với chữ “học sinh”. Ngay bản thân chữ “sinh viên” đã cho thấy sự khác biệt ấy : Sinh viên trong tiếng Anh và tiếng Đức là “student”, trong tiếng Pháp là “étudiant”, liên quan đến 3 động từ : to study, studieren, étudier ít nhiều đều mang hàm nghĩa là “nghiên cứu”. Sinh viên là phải nghiên cứu, chứ không chỉ thụ động tiếp thu kiến thức… Trong tiếng Việt, “sinh viên” có chữ “viên”, nghĩa là đã có một vị trí nào đó… Do vậy, cần ý thức được điều này để cả người dạy lẫn người học ở bậc đại học nhận thức được trách nhiệm của chính mình. Dạy và học ở đại học không chỉ là truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà chủ yếu là gợi hứng cho nghiên cứu.
Ngay cả ở trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông cũng có vấn đề. Những năm 1970 về trước, mang tấm bằng tú tài của Việt Nam sang Tây Âu là được chấp nhận hầu như tương đương, còn những bằng tú tài của Thái Lan, Malaysia, Indonesia… thì buộc phải học lại một năm, tức chỉ bằng đầu lớp 12 bên đó. Bây giờ thì như thế nào? Chúng ta phải nghiêm túc tự vấn về mình…
Lê Ngọc Sơn : Ở các nước phát triển, khoa học trú ngụ ở đại học, tại sao ở các đại học ở ta thì chưa thấy gì, thưa ông?
Bùi Văn Nam Sơn : Theo tôi là do không phân biệt rạch ròi giữa đại học và trung học. Trường đại học dứt khoát không phải là trường phổ thông cấp 4. Nó khác về chất trong hệ thống giáo dục quốc gia. Đại học cũng không phải là trường dạy nghề, trường dạy nghề lẽ ra cần có một hệ thống khác, cũng cao cấp và sáng giá không kém gì đại học. Ở Đức, sau khi đỗ tú tài, ta có hai con đường để lựa chọn, một là các trường kỹ thuật, trường dạy nghề chuyên nghiệp dành riêng cho những kỹ sư thực hành, rất hay và thiết thực, ra trường dễ kiếm việc làm và lương cao. Hoặc hướng thứ hai là nghiên cứu : cũng có thể là khoa học – kỹ thuật nhưng nặng về lý thuyết. Do có hai hướng rõ ràng như vậy, dựa vào việc phân định khách quan về nhiệm vụ, nên khi vào đâu, ta sẽ biết làm cái gì, biết rõ tính chất của trường mình. Việc “liên thông” giữa hai loại trường này lại là chuyện khác nữa !
Do đó, đại học đương nhiên mang tính chất nghiên cứu, dù ở năm thứ nhất cũng là nghiên cứu, ở bậc tiến sĩ, hay sau tiến sĩ cũng là nghiên cứu. Từ sinh viên đến giáo sư đều làm nghiên cứu. Không khí của đại học là nghiên cứu. Thành ra, cái mà ta đang nhầm lẫn ở đây là nhẫm lẫn tính chất của đại học, dẫn đến hệ quả rất trầm trọng là biến đại học thành trường dạy nghề, và biến trường dạy nghề thành ra cái gì đó rất là yếu kém và yếu thế. Đã đi học để nghiên cứu thì phải toát ra tinh thần nghiên cứu, tức là toàn bộ giáo sư và sinh viên là một cộng đồng nghiên cứu, người đi trước hướng dẫn, dìu dắt người đi sau, không ngừng hình thành những chuyên ngành mới, những trường phái mới… Nghiên cứu có nhiều cấp độ, cấp thấp / cấp cao, dễ / khó… Cũng tránh hướng suy nghĩ rằng, nghiên cứu là cái gì đó cao xa lắm, thực ra đâu phải vậy : ngay năm thứ nhất, bạn cũng đã phải có tư duy nghiên cứu rồi, tự tìm tòi phương hướng và phương tiện nghiên cứu của mình với sự giúp đỡ của người đi trước.
Vì thế, hình thức Sêmina ngày càng chiếm ưu thế. Sêmina là lao động tập thể của sinh viên lẫn giáo sư, của thầy và trò, cùng nhau tìm tòi tài liệu, tổng kết, nhận định, đánh giá những gì đã có, đó là những hình thức ban đầu của nghiên cứu ngay từ năm thứ nhất.
Lê Ngọc Sơn : Theo ông, sinh viên phải chuẩn bị những gì cho một tương lai đầy thử thách trước mặt?
Bùi Văn Nam Sơn : Người Pháp có câu ngạn ngữ : “muốn đi xa phải chăm sóc yên cương” (“Qui veut aller loin, ménage sa monture”/Racine), nghĩa là, phải biết dưỡng sức và chuẩn bị phương tiện. Đi mười dặm thì đơn giản, nhưng đi trăm dặm, nghìn dặm, vạn dặm… thì lại khác. Công việc học cũng vậy thôi, nếu chỉ nghĩ lấy cái bằng ra để kiếm việc làm, nuôi sống bản thân thì khá đơn giản, nhưng nếu muốn tiến xa trong chuyên ngành của mình thì phải chuẩn bị cho 30, 40 năm sau về cả ý thức lẫn sức lực.
Chắc bạn biết rằng trên 30 tuổi rất khó học ngoại ngữ, do nguyên nhân sinh lý thôi, trên 30 tuổi thì các nơ-ron thần kinh già đi, giảm thiểu khả năng tiếp thu. Vậy thì phải luyện rèn ngoại ngữ trước 30 tuổi. Người làm nghiên cứu cần trang bị cho mình nhiều ngoại ngữ. Đối với các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, cần phải có hai ngoại ngữ thông dụng. Đối với người làm nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn, thì càng nhiều càng tốt, cả cổ ngữ nữa. Đó là vốn liếng tối thiểu để nghiên cứu.
Lê Ngọc Sơn : Cần tạo cảm hứng ham hiểu biết của anh chị em sinh viên như thế nào, thưa ông?
Bùi Văn Nam Sơn : Theo quan sát của tôi, hiện nay, anh chị em sinh viên đang chịu nhiều áp lực thi cử quá mức. Cần tạo một khoảng hở để anh chị em sinh viên vui chơi, và có… chơi nhiều thì mới thấy việc học là thú vị, không học thì tiếc, và thế là lao vào học. Học trong sự say mê. Hãy tạo không gian tự do để anh chị em cảm thấy hứng thú nghiên cứu, chứ suốt ngày bị áp lực thi cử, hay sợ tương lai của mình phụ thuộc vào thi cử…thì những việc đó làm hao tổn năng lượng của anh em trẻ một cách quá đáng ! Thể lực và thể thao đại học cũng là hiện tượng rất đáng lo ngại, chưa nói đến những hình thức tiêu cực phản giáo dục…
Lê Ngọc Sơn : Chúng ta nên bắt đầu lại thế nào để xây dựng lại tinh thần đại học một cách tử tế?
Bùi Văn Nam Sơn : Hình như ta đang có cao vọng là phấn đấu đứng vào hàng ngũ những đại học tiên tiến trên thế giới. Tôi nghĩ là khó vô cùng ! Với những gì hiện có, tôi e chuyện đó là ảo tưởng. Nhiều thập kỷ nữa chưa chắc mình đã vào được hàng ngũ những đại học trung bình ở khu vực, chứ đừng nói đại học đẳng cấp quốc tế. Và để có cơ may làm được điều đó thì việc trước tiên là phải thay đổi tính chất của đại học hiện nay.
Điều đáng lo là chúng ta không lo những chuyện bình thường, coi nhẹ những chuyện bình thường. Chuyện lẽ ra ai cũng phải làm, nước nào cũng phải làm thì mình lại xem thường, mình chỉ muốn làm những gì khác thường, phi thường. Làm sao làm những chuyện khác thường, phi thường khi cái bình thường, ta chưa làm được ? Hãy là cái gì bình thường trước đã. Những đại học, học viện trên thế giới người ta là cái gì thì mình là đúng cái đó đi đã: đầu tư cho sách vở đầy đủ, đầu tư cho con người, không gian học thuật, v.v…
ĐI XA CẦN CÓ BẠN ĐƯỜNG VÀ TẬP HIỂU NHỮNG ĐIỀU KHÁC BIỆT
Lê Ngọc Sơn : Như vậy, sẽ phải bình tĩnh để nhìn lại năng lực tự thân và hướng đi của mình?
Bùi Văn Nam Sơn : Vâng. Một nền giáo dục lạc hậu thì đuổi mãi chắc rồi cũng bắt kịp, nhưng lạc hướng thì chịu thua. Chúng ta thường mong làm những điều phi thường, nhưng đôi khi thực chất nó lại là nghịch thường. Những cách làm của mình hiện nay là trái với bình thường, không giống ai và không có ai làm như thế cả. Trên thế giới, nền giáo dục quốc gia được định hình từ lâu lắm rồi. Những định chế khoa học cũng đã định hình từ xa xưa với hơn 700 năm kinh nghiệm. Họ làm gì, ta làm nấy cho giống đại học cái đã, rồi phát triển dần lên.
Lê Ngọc Sơn : Phía trước là cả chặng đường dài, theo ông, các bạn sinh viên nên làm gì?
Bùi Văn Nam Sơn : Theo tôi các bạn trẻ cần hình thành ý thức tự học và xác định tinh thần đi xa phải có bạn đường. Thứ nhất,sinh viên cần có tinh thần tự học trọn đời, nghiên cứu trọn đời. Ngay cả khi đã “bỏ nghề”, nhưng nếu còn tha thiết với nó, ta vẫn tìm sách mà đọc, cố gắng hết sức trong thời gian eo hẹp để làm giàu tri thức cho mình, nâng chất lượng cuộc sống mình lên. Đó là tinh thần tự học. Thứ hai, đã có tinh thần tự học, thì hoàn cảnh nào đi nữa vẫn có thể tham gia làm việc từng nhóm với nhau. Bạn có thể sinh hoạt với nhau trong một nhóm bạn hữu tâm giao, có thể theo đuổi một công việc tình nguyện, không ăn lương, thậm chí không dính đến bộ máy hay tổ chức nào cả. Chúng ta cần những nhóm người nhiệt huyết, không lệ thuộc vào đồng lương nhà nước, cơ quan… Cái có sức sống nhất chính là những nhóm nghiên cứu độc lập, tự nguyện, vô vị lợi, chủ yếu là vì lòng say mê, tình tri kỉ… được hình thành ngay thời sinh viên. Cho nên tình bạn trong đại học không chỉ là vui chơi, chính tình bạn có tính tự nguyện này là mầm mống cho những hoạt động khoa học bền bỉ. Trong lịch sử khoa học, có những nhóm nghiên cứu kết bạn với nhau từ hồi sinh viên cực kì khăng khít, đã tạo ra những công trình phi thường.
Lê Ngọc Sơn : Theo ông, làm sao để người trẻ kiên trì trên con đường nghiên cứu?
Bùi Văn Nam Sơn : Đã là sinh viên đúng nghĩa thì ta phải ham chuyên môn của mình ngay từ khi bước chân vào trường đại học. Bước vào giảng đường, thư viện hay phòng thí nghiệm, ta cảm thấy linh thiêng, hào hứng, thì mới có hi vọng thành tựu. Ít ra là cũng ham đọc sách, chứ cầm cuốn sách mà đọc vài trang là lăn ra ngủ thì không thể nào đi xa được đâu. Phải mê sách vở, mê nghiên cứu, mê chữ nghĩa,… thì mới có triển vọng. Dần dần thành thói quen, trong đó có thói quen tập đọc, tập chịu đựng : cái khó nhất trong học tập, nghiên cứu là chịu đọc những cái mà mình không thích. Đọc một cách nghiêm chỉnh, không thành kiến những gì không giống mình. Nghiên cứu là để hiểu vấn đề và hiểu người khác một cách nghiêm chỉnh, trung thực. Đừng vì ghét quan điểm của tác giả nào đó, rồi chưa đọc kỹ về họ đã bác bỏ hay xuyên tạc họ. Cố tình hạ thấp họ để nghĩ mình thắng họ, thì thực chất họ cũng chẳng thấp hơn được. Phải hiểu một cách chân thực, phản bác họ bằng luận cứ. Và để làm được điều đó thì, như đã nói, phải chịu khó đọc những cái mình không thích, học những môn mình không ưa. Tập thói quen này khó lắm đó, nhưng hoàn toàn có thể làm được.
Dù có nhiều khó khăn đón chờ phía trước, nhưng xin hãy cứ kiên trì, rồi mùa hoa trái sẽ tới!
Xin cảm ơn ông !
 Lê Ngọc Sơn thực hiện
Rải băng : Tạ Thương
Bài đăng trên báo SVVN số Xuân Quý Tỵ 2013
Theo Diễn Đàn

‘Cần có luật về sự lãnh đạo của Đảng’

Theo ông Vũ Mão, vấn đề mấu chốt nhất của việc sửa Hiến pháp là xác định mối quan hệ quyền lực giữa Đảng và các cơ quan nhà nước, giữa Đảng và người dân.
 “Tôi nhất trí việc trước khi dự thảo trở thành Hiến pháp chính thức phải để cho người dân phúc quyết. Dù chúng ta chưa chủ trương nhưng bây giờ làm vẫn là chưa muộn và có thể làm được.”
Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão cho rằng, việc có luật về sự lãnh đạo của Đảng là phù hợp với tư duy về nhà nước pháp quyền. Đảng vẫn giữ quyền lãnh đạo nhưng không làm thay Quốc hội, không làm thay Chính phủ.
- Ủy ban sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã xác định tới 9 nội dung cơ bản của việc sửa đổi. Theo ông, vấn đề mấu chốt nhất là gì?
- Việc đưa ra được 9 nội dung cơ bản của việc sửa đổi là một cố gắng lớn của Uỷ ban. Nhiều nội dung đã được nghiên cứu công phu, có lập luận rõ ràng, chắc chắn sẽ được ủng hộ cao như Điều 54 về sự bình đẳng của các thành phần kinh tế.
Trong toàn bộ bản Hiến pháp lần này, tôi cho rằng, vấn đề mấu chốt nhất là xác định rõ mối quan hệ quyền lực giữa Đảng và các cơ quan nhà nước, giữa Đảng và người dân. Điều 4 về sự lãnh đạo của Đảng, trong dự thảo lần này bổ sung thêm nội dung ở Khoản 2 (Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình) là đúng. Nhưng nếu chỉ dừng ở đấy thôi thì chỉ như một khẩu hiệu và chưa có cơ chế nào để đảm bảo sự giám sát của nhân dân cũng như đảm bảo Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân.
- Theo ông, việc thực thi Điều 4 Hiến pháp năm 1992 có vướng mắc, trở ngại gì trong thực tế?
- Do ngoài việc quy định như trong Điều 4 của Hiến pháp thì không có một văn bản pháp luật nào khác quy định về sự lãnh đạo của Đảng nên việc thực hiện điều này tùy thuộc vào từng nhiệm kỳ và tuỳ theo ý chí của từng đồng chí lãnh đạo.
Tôi lấy ví dụ, ở nhiệm kỳ khoá VI, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nêu quan điểm: Bộ Chính trị còn bận rất nhiều công việc lớn nên chỉ những vấn đề thuộc đường lối chủ trương trong hoạt động của Quốc hội mới thảo luận ở Bộ Chính trị. Như vậy, Hội đồng Nhà nước chủ động bàn và đưa ra Quốc hội quyết định. Đồng chí Võ Chí Công, Ủy viên Bộ Chính trị, được phân công làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước Đảng. Tôi cho nhiệm kỳ đó là hài hòa và thông thoáng nhất về mối quan hệ giữa Đảng với Quốc hội. Tôi hiểu khi đó Chính phủ cũng như thế.
Nhưng sang Trung ương Đảng khóa 7 thì khác, sau khi đồng chí Nguyễn Văn Linh nghỉ, rất nhiều vấn đề luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội phải đưa ra để Bộ Chính trị xem xét, có kết luận thì mới được thực hiện. Quy trình này không chỉ gây nên tình trạng chậm trễ mà nhiều vấn đề khi đưa ra Quốc hội bàn rất khó vì đã có kết luận của Bộ Chính trị rồi. Tôi cho như vậy là không nên.
- Để khắc phục hạn chế đó, theo ông, Điều 4 cần được bổ sung như thế nào?
- Nếu chúng ta nhận thức sâu sắc và có tư duy về Nhà nước pháp quyền thì việc có Luật về sự lãnh đạo của Đảng là hoàn toàn cần thiết. Tôi nhớ lại trong những lần trao đổi kinh nghiệm với lãnh đạo Quốc hội Trung Quốc, các đồng chí cho biết: Thời kỳ Đại Cách mạng văn hoá đã gây ra biết bao thảm hoạ, bởi khi đó quản lý nhà nước theo “nhân trị”, đến năm 1971 thì Trung Quốc quyết tâm chuyển sang xây dựng nhà nước “pháp trị”. Có nghĩa là phải xây dựng nhà nước pháp quyền với hệ thống pháp luật đầy đủ.
Như vậy, muốn đổi mới đất nước ở lĩnh vực nào thì phải xây dựng đầy đủ các văn bản pháp luật ở lĩnh vực đó thì mới có điều kiện quản lý và thực thi pháp luật.
Trong Nhà nước pháp quyền, nội dung lãnh đạo của Đảng cần được quy định rõ. Việc có được một đạo luật về sự lãnh đạo của Đảng là một đòi hỏi khách quan. Trong đạo luật ấy, nội dung lãnh đạo của Đảng là gì, mối quan hệ với Quốc hội, với Chính phủ, với các cơ quan tư pháp cần được làm rõ.
Một việc làm đơn giản mà rất có ý nghĩa là thêm cụm từ “do luật định” vào nội dung mới được bổ sung: “Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân cũng như chịu trách nhiệm về những quyết định của mình do luật định”. Viết như thế có nghĩa là, sau khi bản Hiến pháp mới được thông qua, sẽ có luật quy định về sự lãnh đạo của Đảng. Luật đó quy định rõ nội dung lãnh đạo của Đảng, phạm vi lãnh đạo đến đâu; đồng thời quy định về cơ chế giám sát của nhân dân cũng như cơ chế chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Phân tích như vậy, thấy rằng quy định này không những không “bó tay” Đảng mà càng làm sáng tỏ vai trò của Đảng, nâng cao uy tín của Đảng. Vấn đề quy định cụ thể nội dung về sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề nhạy cảm, không cẩn thận thì dễ bị chụp mũ. Nhưng tôi tin rằng, chúng ta sẽ cởi mở trình bày có chiều sâu những nghiên cứu của mình để mọi người được thảo luận là điều rất cần trong đời sống chính trị của đất nước.
- Từng là Ủy viên Ủy ban sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để có bản Hiến pháp năm 1992, ông thấy vấn đề này được đặt ra như thế nào cách đây 20 năm?
- Năm 1992, trong bức thư gửi Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo đã đề nghị nghiên cứu để có một đạo luật về sự lãnh đạo của Đảng. Ngay từ lúc ấy tôi cũng có chung quan điểm này. Đồng chí Lê Quang Đạo đã phân tích, nếu có luật để cụ thể hóa điều này, định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các tổ chức Đảng đối với Nhà nước, đối với nhân dân thì mới có căn cứ đầy đủ về luật pháp, vừa phát huy đầy đủ quyền lãnh đạo của Đảng, vừa ngăn chặn tình trạng coi như quyền lãnh đạo của Đảng là vô giới hạn, đi đến lạm quyền, lộng quyền, ảnh hưởng xấu đến vai trò và uy tín của Đảng.
Thực ra, loại ý kiến này không phải là quá mới mẻ, trước đây có nhiều người đã nghĩ như vậy. Đơn cử như Chủ tich Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ (giai đoạn 1981-1987), một luật gia nổi tiếng đã mong muốn như thế. Khi sửa đổi Hiến pháp 1980 vấn đề này cũng tranh cãi rất nhiều nhưng rồi bị gác lại vì chưa có điều kiện bàn bạc.
Sự nghiệp đổi mới đã diễn ra gần 30 năm và đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, vẫn còn những vướng mắc bởi vấn đề phân công quyền lực trong hệ thống chính trị vẫn chưa được làm rõ nên đã hạn chế những kết quả đạt được.
Ông Vũ Mão: “Tôi nhất trí việc trước khi dự thảo trở thành Hiến pháp chính thức phải để cho người dân phúc quyết. Dù chúng ta chưa chủ trương nhưng bây giờ làm vẫn là chưa muộn và có thể làm được. Làm việc này cũng là theo đúng tinh thần của Bác Hồ và theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 1946 là trưng cầu ý dân về những vấn đề quan trọng và toàn bộ bản Hiến pháp. Quy định như vậy nhằm để người dân trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước trong việc thông qua Hiến pháp.Bên cạnh đó, với việc thay đổi nhiều chương mục, sửa đổi, bổ sung gần 100 điều và thêm 11 điều mới, tức là sửa đa phần, thì tôi cho rằng nên đặt tên mới cho bản Hiến pháp. Nên chủ động gọi là Hiến pháp 2013 hoặc Hiến pháp 2014 tùy theo thời điểm công bố”.
Nguyễn Hưng thực hiện
Nguồn: VNExpress

Chiến tranh 17-2-1979


Ngày 16-3-1979, Trung Quốc rút hết quân, cuộc chiến tranh ngắn ngủi mà Đặng Tiểu Bình tuyên bố để “dạy cho Việt Nam một bài học”, kết quả, theo các học giả phương Tây, Trung Quốc đã bị Việt Nam dạy cho bài học. Nhưng suy cho cùng thì điều quan trọng không nằm ở chỗ ai dạy mà là ai đã học được bài học từ lịch sử của mình.
Tháng 2-1979, trong khi Trung Quốc tập trung hơn 60 sư đoàn thì do chiến tranh Campuchia, ở phía Bắc, Việt Nam chỉ còn 11 sư đoàn, chủ yếu đang “làm kinh tế”. Nhiều nơi khi Trung Quốc đánh, súng ống vẫn đang còn nằm ở trong kho. Nhưng, quân Trung Quốc đã không thể chiếm các tỉnh lỵ biên giới nhanh như họ tính. 25 nghìn lính Trung Quốc bị chết, 37 nghìn lính bị thương. Chi phí cho cuộc chiến tranh chưa đầy 4 tuần ấy lên tới 5,5 tỷ nhân dân tệ trong khi ngân sách cả năm 1979 của Trung Quốc chỉ có 22,3 tỷ.
Trên thực tế, Đặng Tiểu Bình đã “học” được rất nhiều từ cuộc chiến tranh. Bài học đầu tiên của Đặng là ông ta biết Liên Xô sẽ không hy sinh quyền lợi của mình cho niềm tin ngây thơ của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Trước khi chiến tranh xảy ra Đặng đã cho sơ tán dân ở một số vùng biên phía Bắc Trung Quốc đề phòng khả năng bị Liên Xô tấn công. Thay vì có hành động quân sự theo Hiệp ước hợp tác toàn diện vừa ký vào tháng 11-1978, khi Việt Nam bị xâm lược, 56 sư đoàn quân Liên Xô nằm ở biên giới Trung Quốc đã án binh bất động. Hai tuần sau khi rút quân, Đặng bắt đầu đi đêm với Mascova.
Ngày 19-3-1979, Đặng nhận định trong 10 năm tới chưa có chiến tranh quy mô thế giới và quyết định, thay vì hiện đại hóa quân đội ngay đã ưu tiên giảm quy mô quân số. Từ 5,2 triệu quân năm 1979 tới năm 1988 quân số của Trung Quốc chỉ còn 3,2 triệu. Chi phí quốc phòng giảm được từ 4,6% GDP năm 1979 xuống còn 1,4% năm 1991. Đặc biệt, từ tháng 3-1979 cho đến khi kết thúc chiến tranh, tất cả các đơn vị bộ binh trên cả nước Trung Quốc đều được luân chuyển đến Biên giới Việt Nam thực hành tác chiến.
Việt Nam kiệt quệ khi bị Trung Quốc biến thành một thao trường. Từ tháng 3-1979, 3 quân đoàn và 11 sư đoàn Việt Nam đã bị cầm chân suốt một thập niên với biết bao máu chảy, đầu rơi trên Biên giới.
Huy Đức
Theo FB Huy Đức

Yêu nước, thật giản dị, có nghĩa là phải biết xấu hổ trước đã

Bạn sẽ trả lời thế nào với câu hỏi “Thế nào là yêu nước” của một học sinh 9 tuổi lớp 3?! Không hề dễ.
Cuộc vật lộn thường nhật với câu chuyện áo cơm khiến chúng ta không bao giờ tự đặt ra và trả lời những câu hỏi về thứ tình cảm thiêng liêng, xuất hiện có khi như một luồng điện chạy dọc sống lưng mỗi độ chúng ta đặt tay lên ngực trái và hát “Đoàn quân Việt Nam đi…” trên một sân vận động nào đó ngập tràn màu cờ tổ quốc.
Nhưng yêu nước cũng chẳng phải điều gì quá xa vời, không thể định nghĩa.
Ở Sài Gòn, một chàng trai đã có sáng kiến in bản đồ Việt Nam với khẳng định độc lập chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lên phong bào lì xì ngày tết. Chuyện rất đơn giản khi chàng trai chứng kiến, và thấy khó chịu với chỉ “toàn là phong bao lì xì hàng Trung Quốc với những nội dung ngôn ngữ và hình ảnh văn hóa Tàu”. Anh nói anh thấy buồn. Bởi trong ngày tết truyền thống, đến cái phong bao mừng tuổi trẻ con mà “cũng phải lệ thuộc vào hàng Tàu”.
Ở phường Đằng Giang, Hải Phòng, chính quyền ra thông báo đề nghị không treo đèn lồng do “nước ngoài” sản xuất có các dòng chữ khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. “Hiện trên thị trường thành phố đang có bán đèn lồng do nước ngoài sản xuất, trong đèn lồng có viết chữ nước ngoài nội dung tuyên truyền trái với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước”- văn bản viết, và khuyến cáo người dân “không mua đèn lồng do nước ngoài sản xuất”. Bản thông báo, được kèm các tờ rơi in các chữ tiếng Trung trên đèn lồng và phiên dịch sang tiếng Việt. Đó là các từ Tam Sa, Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa).
Ở nhiều nơi trên đất nước này, như khắp nơi trên thế giới, có những cô gái mở những cửa hàng “No China”, kiên quyết nói không với hàng Trung Quốc kém chất lượng mà bài học rành rành là những chiếc áo ngực lạ, chứa chất lạ.
Trên facebook, cơn giận dữ của cộng đồng mạng bùng nổ khi phát hiện những ngôi sao người Việt quảng cáo cho wechat, một ứng dụng trên smartphone ngấm ngầm đưa “Đường lưỡi bò” vào bản đồ.
Cũng ngay trước tết, GS nổi tiếng Nguyễn Lân Dũng đặt câu hỏi: Một nước 90 triệu dân mà cho đến nay chưa làm được 1mg nào chất kháng sinh, vitamin, hormone và hàng loạt thuốc chữa bệnh thông thường khác. Người bệnh phải mua thuốc ngoại với giá ngày càng cao. Các mặt hàng thiết yếu khác cũng như vậy. Vào siêu thị thấy quá vô lý khi ta phải nhập cả đũa, cả tăm, cả bông ngoáy tai…
Tự làm phong bao lì xì Việt Nam; mở những cửa hàng “No China”. Đó không phải là “bài Trung”. Khuyến cáo người dân dùng đèn lồng trong nước. Phản đối câu chuyện vô lý phải bỏ ngoại tệ nhập cả bông ngoáy tai. Đó không phải là “tẩy ngoại”.
Phát biểu của vị Giáo sư lừng lẫy; Văn bản của ông Chủ tịch phường và việc làm giản dị của những người trẻ tuổi, không thể gọi khác hơn: Đó chính là những hành động yêu nước.
Năm 2012, lần đầu tiên sau 19 năm Việt Nam xuất siêu hàng hóa, dù với giá trị khiêm tốn 284 triệu USD. Nhưng cũng trong chính con Rồng này, thâm hụt thương mại với Trung Quốc cũng lên đến mức kỷ lục: 16,7 tỷ USD. Chúng ta đang chứng kiến một cuộc đổ bộ chưa từng thấy của hàng hóa Made in China, qua cả những thống kê nhà nước và luồn lách khắp dải biên giới qua cái gọi là “tiểu ngạch”. Mà đó đâu phải là phi thuyền hay tàu ngầm. Đó là cuộc đổ bộ của những chiếc “bông ngoáy tai”, của “đũa”, “tăm” và “phong bì lì xì”.
Yêu nước, thật giản dị, có nghĩa là phải biết xấu hổ trước đã.
Đào Tuấn
Theo Đào Tuấn blog (tựa bài của HDTG)

Thứ Năm, ngày 14 tháng 2 năm 2013

“Ðòi cho bằng được tự do, công bằng, quyền căn bản của con người không thể xem là một cái tội”

Gần như cả đời, tôi chỉ được đọc sách báo “cách mạng” phát hành. Có lần, ông trưởng phòng cũ của tôi trích dẫn lời một tổng thống Mỹ nói: “Chủ nghĩa cộng sản là một quái thai của thế kỷ 20”, tôi đã bĩu môi bĩu mỏ, bảo: không nghe cái luận điệu hằn học của “bọn tư bản”!
Bây giờ phần nào hiểu, mình u mê một cách khủng khiếp và …lâu đến thế. Nói ra thật xấu hổ, cuối năm 2011, tôi mới biết đến facebook. Ở đó, người ta dẫn cho mình biết rất nhiều thông tin, thứ không bao giờ có thể tìm thấy trên phương tiện truyền thông nhà nước. Sự thật về “Cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc, và phiên bản của nó là “Cải cách ruộng đất” ở Việt Nam thì nhiều người nghe và đọc. Nhưng biết đến đâu lại là chuyện khác.
Sau “Chuyện làng Cuội” đến “Đêm giữa ban ngày”, gần đây, tôi mới đọc thông tin về cuộc nổi dậy của nông dân ở Quỳnh Lưu – Nghệ An năm 1956. Hỏi một số người lớn tuổi, hầu như chả ai biết tý gì về sự kiện này. Còn lớp trẻ xứ Nghệ nói, “dân Nghệ An ngày nay không thấy nhắc đến biến cố này. Không ngờ thời đó, dân Quỳnh Lưu quật cường thế”. Người khác lại bảo: “Chưa có nhiều người biết về giai đoạn lịch sử bi hùng này của dân miền Trung nói chung, Nghệ An nói riêng”.
Kinh thật! Ngần ấy năm, sự kiện bi thương cùng số phận của biết bao nhiêu người Việt Nam, qua bao nhiêu thế hệ gần như đã bị quên lãng ngay trên mảnh đất đó, nói gì đến con người ở những miền đất khác? Và đó chỉ là một trong vô vàn sự thật khác không được mấy người biết tới.
Trong suy nghĩ của tôi không còn là sự nghi ngờ nữa. Cái mà giờ đây tôi không tin, chính là những thứ đã nhồi nhét vào đầu tôi suốt mấy chục năm qua. Giống như một khối ung thư, cái gì cố giấu diếm thì một ngày nào đó cũng sẽ vỡ toác ra thôi.
Nhưng từ việc không tin, đến việc nói ra để phản đối là hai chuyện có khoảng cách khá xa nhau. Trước đây, khái niệm tù luôn đi với tội. Khi đã biết nhiều người bị kết án tù chỉ vì họ lên tiếng phản đối chế độ, thì tôi mới hiểu câu nói: ”Ðòi cho bằng được tự do, công bằng, quyền căn bản của con người không thể xem là một cái tội”
Tôi không được vinh dự biết đến những con người mà dưới mắt chính quyền họ là những tội đồ, nhưng trong con mắt của nhiều người khác (trong đó có tôi) thì họ là những con người cấp tiến. Họ đã không chịu khom lưng quỳ gối, sẵn sàng đánh đổi tự do của mình cho một tương lai tươi đẹp hơn cho nhiều người. Trong số họ, có người vẫn trong ngục tù, có người đã mãn hạn, và tôi luôn dành cho họ một sự cảm phục, mến thương.
Trong ngày đầu xuân năm nay, khi được rủ đi thăm một người tù có cái tên khá quen thuộc trên mạng – Phạm Văn Trội, tôi bỏ qua được sự e ngại không phải từ phía chính quyền để đến với họ, mà vì họ là một trong những người tù khá nổi tiếng, vì đã dám lên tiếng đấu tranh từ cách đây nhiều năm.
Thật may mắn là chúng tôi được gặp cả vợ chồng luật sư Nguyễn Văn Đài, người cũng đã mãn hạn tù gần hai năm trước. Trong khi những người đàn ông nói chuyện với nhau, tôi xúc động nhìn những người vợ trẻ của họ, cảm nhận được sự kiên cường của họ trong lúc chuyện trò. Cho dù họ rất cứng cỏi, nhưng tôi cứ mườn tượng về những ngày tháng vất vả, cô quạnh của họ trong suốt thời gian chồng họ bị bắt giam. Một người ví họ như người đàn bà trong chinh phụ ngâm, vò võ chờ chồng nơi chiến địa. Tuy sự so sánh này không hoàn toàn chính xác, và không chỉ là vò võ chờ chồng mà họ còn phải chịu bao nhiêu cực khổ khác không sao đong đếm được.
Thời gian trôi nhanh trong buổi chiều mùa đông. Câu chuyện của những người cựu tù dù không mới nhưng vẫn gây một cảm giác buồn, nặng nề và phẫn uất. Bà mẹ của Trội đi chúc tết hàng xóm về, cũng ngồi xuống chiếu nói chuyện với chúng tôi. Nghe bà kể chuyện, tôi thích lắm. Có vẻ như với những người tù chính trị như Phạm Văn Trội, Nguyễn Văn Đài luôn được sự đồng thuận từ những người mẹ, người vợ. Đơn giản vì những gì họ làm là lẽ phải mà thôi.
Thêm một điều thú vị là chúng tôi gặp cả thày giào Đỗ Việt Khoa cũng đến chơi nhà Phạm Văn Trội. Tôi thực sự không muốn dùng từ “Người đương thời” để chỉ thày, nhưng cũng cảm phục thày không kém vì những gì thày đã dũng cảm lên tiếng, tố cáo những sai phạm trong ngành giáo dục. Chỉ tiếc rằng những người như thày Khoa còn quá ít, và cuộc đấu tranh của các thày quá đơn độc.
Rời nhà Phạm Văn Trội khi trời đã tối. Mấy tiếng đồng hồ mà dường như chưa nói với nhau được bao nhiêu. Lưu luyến chia tay với lời hẹn gặp lại, chúng tôi tiếp tục đến điểm tiếp theo là gia đình Lê Thị Công Nhân.
Tương tự như mẹ của Phạm Văn Trội, mẹ của Lê Thị Công Nhân rất ủng hộ con. Bà cũng kiên cường không kém gì cô con gái. Bà say sưa kể về những ngày tháng bị chính quyền o ép, theo dõi, gây khó dễ đủ bề trong thời gian Nhân bị giam giữ. Dù những người tù có bị đày đọa về thể xác và tinh thần trong tù ghê gớm đến đâu, nhưng có lẽ, người tôi thương và cảm phục nhất chính là những người vợ, người mẹ. Mượn lời của một facebooker “Hậu phương có vững chắc thì tiền tuyến mới chiến thắng được”
Từ trái sang: thầy giáo Đỗ Việt Khoa, Phạm Văn Trội, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Kim, nhà văn blogger Nguyễn Tường Thụy.
***
Chiều 30 tết, ngồi ăn cùng bố, phát hiện ra bố “giác ngộ” hơn tôi tưởng. Chính bố mào đầu câu chuyện, về việc bố nghe tay đại tá nào đó nói trên đài về vai trò lãnh đạo cần thiết của đảng. Bố bảo đúng là kiểu nói cùn, nói lấy được. Một mình nó một diễn đàn, ai nghe hay không “mặc mẹ” mày. Chứ cứ thử đăng đàn đối thoại xem, nó chả chết liền tại trận. Kiểu này đúng là nó nói một mình nó nghe, ngứa tai không chịu được.
Bố còn nói một tay phó thủ tướng Trung Quốc, từng nói về sự tồn tại của mặt trận tổ quốc. Bảo rằng đó là một nơi để dùng để trang trí cho dân chủ, toàn những kẻ hết hơi, bảo sao nghe vậy, không được tích sự gì mà chỉ tốn tiền nuôi báo cô. Đấy! Cỡ phó thủ tướng Trung Quốc mà nó còn nói thế…
Nhân thể, tôi hỏi, vậy các nhân sĩ trí thức đang kiến nghị sửa đổi Hiến pháp đấy, bố có đồng ý ký không? Bố bảo đồng ý 3 điểm:
1/   Sửa đổi điều 4, bác bỏ vai trò lãnh đạo đất nước của đảng (ủng hộ có 3 đảng cạnh tranh và kiểm soát lẫn nhau như đảng Xã hôi, đảng Dân chủ, chứ không thể độc đảng Cộng sản như hiện nay được)
2/   Quân đội phải trung thành với Tổ quốc và Nhân dân (không phải trung thành với đảng)
3/   Sở hữu đất đai phải là đa thành phần, trong đó có tư nhân.
Thoạt đầu bố còn băn khoăn về điểm thứ 3- luật đất đai. Tôi giải thích, nếu không có sở hữu tư nhân, người ta sẽ lợi dụng danh nghĩa nhà nước để thu hồi đất của người này giao cho người khác, thế thì khác gì ăn cướp? Chính vì thế mà bao nhiêu năm nay, các công ty này nọ núp bóng chính quyền để phá nhà, cướp đất của người dân, khiến cho họ đi khiếu kiện hết năm này qua năm khác như thế đấy. Bố gật gù bảo, vậy con đăng ký cho bố.
Sáng mồng một tết, tôi gửi emai đăng ký cho bố ký tên vào bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp rồi thông báo cho bố, bố có vẻ phấn khởi lắm. Bố bảo bố sẵn sàng tranh luận với bất cứ ai muốn đến “thuyết phục” bố.
Vâng! Cứ thử xem.
Phương Bích

Tai họa đến từ những kẻ im lặng


Dư luận phổ biến trong nhân dân hiện nay cho rằng việc góp ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 chỉ là chuyện dã tràng xe cát. Ý kiến đã ít nhưng các ý kiến ngược chiều thì bị bỏ qua, không báo nào đăng. Việc Quốc hội bố trí lấy ý kiến (về Hiến pháp) vào 3 tháng trước sau Tết đã để lộ ý đồ muốn nhanh chóng kết thúc một chuyện đã rồi ?!
Năm xưa Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh từng nhiều lần nói về « sự im lặng đáng sợ » khi ông thấy phía chính quyền không có phản hồi về các ý kiến phàn nàn của công luận. Bây giờ lại là lúc nên nói về « sự im lặng đáng sợ » của phía ngược lại — tức của công luận, nhất là của giới trí thức vốn có nghĩa vụ cao quý làm người phản biện xã hội.
Nhìn lại đợt Quốc hội tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, có thể thấy một nửa thời gian đã trôi qua nhưng hầu như dư luận chưa đóng góp được bao nhiêu. 9 ngày nghỉ Tết Quý Tỵ cùng với nỗi lo toan về cái Tết đã lấy đi mất sự quan tâm tới công việc hệ trọng này trong ngót 2 tháng trời trước và sau Tết. Hàng ngày lướt qua các báo điện tử, mục « Đọc nhiều nhất » thấy hầu hết mọi người chỉ quan tâm đến những chuyện sinh hoạt ăn chơi, tình dục, chuyện riêng của các « sao » làng giải trí, chẳng thấy mấy báo đăng tin về sửa đổi Hiến pháp.
Không phải các báo không nhận được ý kiến đóng góp sửa đổi Hiến pháp — phần lớn đó là những ý kiến ngược chiều — nhưng tòa soạn chỉ chọn đăng các ý kiến thuận chiều. Duy nhất có tờ Người Lao động mạnh dạn đưa tin về việc một nhóm nhân sĩ tới gặp chính quyền trao Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, còn các báo khác đều « im lặng đáng sợ » trước tin tức này, dù cả nước ai cũng đã biết.
Gần đây nhất, Tiền phong online đăng bài  « Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực » của GS.TS Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý, phê phán tình trạng nhiều đại biểu Quốc hội và chính khách chưa hiểu bản chất của Hiến pháp, chưa hiểu rằng nhân dân có quyền hiển nhiên được phúc quyết Hiến pháp. Ông Hạnh đã động chạm tới một vấn đề căn bản của quyền dân chủ : Dân mới là người trao quyền cho Nhà nước (gồm Quốc hội và Chính phủ), chứ không phải Nhà nước được trao cho nhân dân quyền này quyền nọ.
Điều 75 Hiến pháp sửa đổi sai ngay ở chỗ quy định Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp. Thực ra chỉ nhân dân mới có quyền làm Hiến pháp, cụ thể Ban Soạn thảo Hiến pháp phải do dân chọn ra từ đại biểu các tầng lớp nhân dân, các nhân sĩ trí thức có tài đức, các nhà pháp luật, nhà ngôn ngữ học. Quốc hội ta với cách đề cử và bầu cử hiện nay không thực sự đại diện cho số đông nhân dân, lại càng không thể có quyền làm Hiến pháp.
Quyền dân chủ nằm trong tay nhân dân. Nó không phải là thứ Nhà nước « lưu kho » rồi ban phát dần cho dân tùy theo tình hình dân chúng và tùy thuộc vào sự hảo tâm của mình. Thực hiện thực sự « dân chủ rộng rãi » theo Di chúc của Bác Hồ thật là việc vô cùng khó khăn. Lâu nay « dân chủ » đã trở thành một từ nhạy cảm.
Dù sao những ý kiến phát biểu như trên còn quá ít. Dư luận phổ biến trong nhân dân hiện nay cho rằng việc góp ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 chỉ là chuyện dã tràng xe cát. Ý kiến đã ít nhưng các ý kiến ngược chiều thì bị bỏ qua, không báo nào đăng. Việc Quốc hội bố trí lấy ý kiến (về Hiến pháp) vào 3 tháng trước sau Tết đã để lộ ý đồ muốn nhanh chóng kết thúc một chuyện đã rồi.
Ngay cả những người được gọi là  trí thức cũng cho rằng chẳng nên góp ý về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, vì mọi chuyện đã được « trên » thu xếp xong từ lâu. Thậm chí có người « cá » : Nhất định là Dự thảo sửa đổi Hiến pháp sẽ được « thông qua » với chút ít sửa đổi nho nhỏ mà thôi, đừng hy vọng có thay đổi gì cơ bản. Có người tâm sự : Mình cũng muốn viết bài góp ý đấy, nhưng thấy vợ bảo : « Không ai chống được Trời đâu nhé ! Tôi không mang cơm tù cho ông được đâu ! », thế là lại thôi.
Nhà báo lão thành Hữu Thọ rất thích trích dẫn câu nói ông cho là của Albert Einstein : « Tai họa không đến từ kẻ xấu mà đến từ những người im lặng ». Còn có một câu nói khác : « Im lặng là đồng ý ». Vì thế sự im lặng ấy tuy chỉ là yên phận thủ thường nhưng dù sao vẫn là một tai họa. Giáo sư Ngô Bảo Châu từng nói: “Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng”. Phải chăng xã hội ta đã chết lâm sàng trong vấn đề sửa đổi Hiến pháp ?
Khi đa số im lặng trước một vấn đề quan hệ tới vận mạng của dân tộc thì đa số đó có thể mang lại tai họa cho dân tộc ! Đặc biệt khi tình trạng này xuất hiên trong giới trí thức vốn có nghĩa vụ thức tỉnh dân tộc, thì tai họa họ đem lại càng lớn và càng đáng sợ !
Huy Đường