Thứ Bảy, ngày 23 tháng 2 năm 2013

Nên đặt lại vấn đề khai thác bôxit

“Một dự án kinh tế mà công nghệ khai thác cũng như tiêu thụ sản phẩm đều chủ yếu dựa vào Trung Quốc, nghĩa là “bỏ tất cả trứng vào một giỏ” thì độ rủi ro rất cao. Việc phương án cảng Kê Gà “vỡ” là một trong những ví dụ cho thấy ngay từ đầu công việc quan trọng liên quan đến dự án này đã không được tính toán kỹ lưỡng, có gì đó vội vàng” - PGS.TS Hồ Uy Liêm
Từng tham gia phản biện chương trình khai thác bôxit Tây Nguyên, PGS.TS Hồ Uy Liêm (nguyên quyền Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam – VUSTA) nói ông không ngạc nhiên trước thông tin về những khó khăn liên quan tới dự án boxit.
PGS.TS Hồ Uy Liêm (nguyên quyền Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam – VUSTA) – Ảnh: V.V.Thành
Ông Hồ Uy Liêm nói: Trước khi nghiên cứu phản biện về dự án này, chúng tôi thấy rằng việc vận tải bôxit sẽ là một trong những bài toán kinh tế khó nhất của chủ đầu tư, hầu như không có lời giải trong điều kiện hạ tầng hiện nay của nước ta, nếu cố làm thì mức lỗ sẽ càng nặng hơn. Tuy nhiên, vấn đề này được trình bày khá sơ sài trong dự án khả thi của Tập đoàn than - khoáng sàn VN (TKV).
Riêng với cảng Kê Gà, đây là nơi quanh năm sóng gió, độ sâu vừa phải và nhiều đá ngầm, nói chung là địa hình hiểm trở nên muốn hình thành cảng cho bôxit thì phải xây dựng đê chắn sóng, phá đá ngầm, dĩ nhiên là chi phí sẽ đội lên nhiều lần.
* Cùng với việc ngừng xây dựng cảng Kê Gà, có nhiều ý kiến đặt lại bài toán hiệu quả của dự án khai thác bôxit?
- Khi tính toán hiệu quả kinh tế của dự án khai thác bôxit, chúng tôi lên hai phương án, cuối cùng chọn phương án đơn giản nhất, có lợi nhất cho nhà đầu tư đó là sử dụng chính các số liệu của TKV để tính toán. Qua đó cho thấy dự án này hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế, thậm chí là lỗ.
Dựa trên số liệu TKV cung cấp và giá thị trường thế giới cuối năm 2009, các nhà khoa học tham gia phản biện tính ra mức lỗ có thể lên đến hàng chục triệu USD mỗi năm. Đáng tiếc là ý kiến của chúng tôi không được lắng nghe. Chúng ta thấy rằng trong tính toán ban đầu cảng Kê Gà được coi là phương án tối ưu mà còn lỗ, nay buộc phải thay đổi tuyến vận tải về cảng Gò Dầu (Đồng Nai) hoặc cảng Vĩnh Tân (Bình Thuận) thì thiệt hại là khó tránh khỏi.
Tôi cho rằng nếu với một nhà đầu tư tư nhân thì ngay từ đầu họ sẽ không vội vàng như vậy, ít nhất là phải khảo sát và tính toán kỹ lưỡng phương án vận tải, trong đó có phương án cảng Kê Gà, họ sẽ biết lắng nghe ý kiến tư vấn của các chuyên gia hơn…
* Một trong những vấn đề gây nhiều lo lắng nhất trong việc thực hiện dự án khai thác bôxit ở Tây Nguyên là ảnh hưởng đến môi trường?
- Báo cáo phản biện của VUSTA đã mổ xẻ rất kỹ vấn đề này. Quan điểm chung ở đây là nếu không khai thác bền vững thì những tác hại về môi trường có thể trước mắt chưa thấy, nhưng về lâu dài là khôn lường và rất khó xử lý.
Tôi nói cụ thể là chủ đầu tư cam kết hoàn nguyên, nhưng thực tế đã chứng minh chưa có công trình nào lớn mà ta khôi phục được môi trường theo đúng yêu cầu, ví dụ rõ nhất là khai thác than ở Quảng Ninh. Nếu nói sâu vào những vấn đề khoa học thì mất nhiều thời gian, nhưng có lẽ nhìn vào vụ lũ bùn đỏ ở Hungary thì bất cứ ai cũng hình dung được quy mô tác hại của khai thác bôxit nếu xảy ra vỡ đập.
Tất nhiên không ai muốn điều này xảy ra, nhưng với một vấn đề quan trọng như khai thác bôxit ở Tây Nguyên thì tất cả các khả năng đều phải được đặt ra. Lúc bấy giờ chúng tôi kiến nghị nên xem xét phương án thải khô, vì thải ướt thì nguy cơ cao hơn, nếu áp dụng thải khô thì giá đội lên, nhưng nơi có quyền quyết định đã quyết định rồi.
* Đến nay nhìn lại ông thấy những kiến nghị của VUSTA đã được tiếp thu như thế nào?
- Việc tham gia phản biện chương trình khai thác bôxit Tây Nguyên, ban đầu Chính phủ không mời chúng tôi, mà do một tổ chức khoa học độc lập (CODE) nghiên cứu, sau đó phối hợp với các chuyên gia thuộc nhiều hội thành viên của VUSTA tổ chức các hội thảo để đánh giá. Chúng tôi đã gửi kết luận từ các hội thảo đó đến các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cũng như các bộ, ngành liên quan.
VUSTA đã được trình bày quan điểm của mình tại cuộc họp chuyên đề của Bộ Chính trị. Tiếp theo là Chính phủ chỉ đạo VUSTA cùng với Bộ Công Thương phối hợp tổ chức hội thảo. Chúng tôi kiến nghị chỉ cho thí điểm một dự án ở Tân Rai (Lâm Đồng), chứ chưa nên triên khai ở Nhân Cơ (Đắk Nông), sau khi có kết quả thí điểm tại Tân Rai thì sẽ quyết định tiếp. Thế nhưng, như chúng ta đều biết là cả ở Tân Rai và Nhân Cơ đều được triển khai.
* Vậy quan điểm hiện nay của ông thế nào đối với dự án khai thác bôxit Tây Nguyên?
- Để khẳng định thì cần có nghiên cứu cẩn thận của các chuyên gia, trong đó có đánh giá của các chuyên gia độc lập, dựa trên các số liệu được cập nhật, có số liệu về phương án vận tải mới. Tuy nhiên, dựa trên các yếu tố cơ bản thì quan điểm cá nhân tôi là nên để dành nguồn tài nguyên quý giá này cho con cháu mai sau. Cần đặt ra bài toán nếu dừng lại thì thiệt hại ra sao, còn không dừng thì thiệt hại về lâu dài có lớn hơn không.
Nói tóm lại, các cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư và các nhà khoa học lại phải một lần nữa vào cuộc để làm rõ vấn đề.
Võ Văn Thành thực hiện
Xem thêmGiá 6 tấn Boxit bằng 1 tấn cà phê
Khi biết giá trị của 1 tấn alumin chỉ đang thương thảo bán ở mức 340 USD (tương đương 7 triệu đồng), một nông dân ở huyện Bảo Lâm (nơi Nhà máy bôxit – nhôm Tân Rai hoạt động) đã thốt lên như vậy.
Nông dân này nói: “Tưởng thứ gì có giá trị lắm nên mới xây dựng nhà máy to thế, ai dè giá bán còn thua xa 1 tấn cà phê của dân”.
Sáng 22-2, vợ chồng anh Phạm Xuân Vũ và chị Kim Thị Thu Hồng (tổ 15, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm) bắt đầu đốn bỏ những cây cà phê tại vườn gần nhà.
Nhìn mảnh vườn với những cây cà phê bị đốn và những gốc chè còi cọc do không được chăm sóc, chị Hồng xót ruột: đất thì Nhà nước đã thu hồi để làm dự án bôxit từ năm 2008 nhưng vì tiếc chè và cà phê quá nên cứ tận thu, khi nào lấy đất hãy hay.
Trước đây chỉ làm 5 sào đất, gia đình chị Hồng thu được 3-4 tấn cà phê khô mỗi năm, cộng với diện tích chè trồng xen mỗi tháng cũng được vài trăm ngàn đồng, đủ để hai vợ chồng và ba con trang trải cuộc sống.
Thế nhưng từ khi đất bị thu hồi, họ mua lại miếng đất hoang cách nhà gần 10 km và làm lại từ đầu sau hơn 20 năm rời Long An lên Bảo Lâm lập nghiệp.
Tại khu vực đất của gia đình chị Hồng, có tổng cộng 46 hộ dân bị thu hồi đất để làm khu mỏ tuyển phục vụ dự án bôxit – nhôm Lâm Đồng. Đến nay, theo chị Hồng, mọi người đều đi tứ xứ mua đất lập nghiệp lại hoặc làm công việc khác. Chỉ mỗi gia đình chị cùng gia đình ông Điền ở lại và đều khốn khó như nhau.
Ông Trần Trung Kiên – phó chủ tịch UBND thị trấn Lộc Thắng – cho biết: từ năm 2007, ban quản lý dự án và huyện quy hoạch khu đất rộng 190ha (cách nhà máy bôxit khoảng 5km) để làm đất tái định canh cho dân. Đến nay, chưa có hộ dân nào được mua đất tái định canh do chưa áp giá cụ thể.
Huyện Bảo Lâm là vùng trọng điểm chè và cà phê của tỉnh Lâm Đồng. Theo cách tính của nhiều nông dân nơi đây, với giá cà phê khoảng 40 triệu đồng/tấn như hiện tại thì 1 tấn cà phê gấp gần 6 lần so với alumin. Để nhường đất triển khai dự án bôxit, nhiều nông dân buộc phải đi xa hơn để mua đất sản xuất.
Nếu như trước đây khi tổ hợp bôxit Tân Rai được xây dựng, tại khu vực ngã ba Cát Quế (thị trấn Lộc Thắng) quán ăn, quán cà phê rất nhiều và hoạt động nhộn nhịp, nay cảnh tượng lại đìu hiu.
Hàng loạt quán đã đóng cửa vì buôn bán ế ẩm. Người dân luôn phải sống trong nơm nớp lo sợ vì xe chạy nhiều, tai nạn nhiều, đường sá lúc nào cũng bụi mù.
Khi dự án bôxit khởi công, được trở thành công nhân bôxit là giấc mộng của rất nhiều thanh niên địa phương. Hiện giấc mộng này đã vỡ tan khi lương bổng không như mong đợi, sản xuất chưa có lãi. Anh Phong (công nhân lấy mẫu hóa) nói: “Sau một thời gian dài hưởng lương chờ việc, nay trở lại làm việc thì mức lương cũng không cao, thua cả lương thợ xây”.
Ông Nguyễn Văn Yên – phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng – tại buổi làm việc với thứ trưởng Bộ Công thương vào cuối năm 2012 cho biết: “Hai năm liên tục (2011 – 2012) tỉnh Lâm Đồng đã lên kế hoạch thu ngân sách từ dự án này. Tuy nhiên, do chậm tiến độ nên số thu này không thể thực hiện, ảnh hưởng đến kế hoạch thu chi ngân sách của tỉnh”.
Gia Bảo
Theo Tuổi Trẻ

Tiền dân bay theo bụi đỏ tây nguyên


Tất nhiên lợi lộc vào túi cá nhân nên họ mới làm như thế, xin nói thẳng. Nếu như không lợi lộc gì cho quốc gia dân tộc tại sao lại tiếp tục làm, nó phải có gì khuất tất không tốt đẹp ở phía sau. GSTS. Nguyễn Thế Hùng
Công trường bauxite Tân Rai,
Lâm đồng do Tập đoàn Than Khoáng
 sản Việt Nam (TKV-Vinacomin) đầu tư
Sự thật không còn thể che giấu mãi, nếu tiếp tục các dự án bauxite ở Lâm Đồng và Đak Nông thì tiền dân sẽ bay theo bụi đỏ Tây nguyên.
Càng đầu tư càng lỗ
Dư luận nóng trở lại sau khi có tin Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV-Vinacomin) sẽ phải chịu lỗ hơn 10 triệu USD nếu bán 300.000 tấn alumin xuất xưởng trong năm nay và dự án cảng Kê Gà đã phải hủy bỏ.
Vài năm trước Tập đoàn TKV được Chính phủ ủng hộ, đã quyết tâm thực hiện việc khai thác bauxite tây nguyên. Bước đầu là dự án Tân Rai Lâm Đồng và tiếp theo sẽ tới dự án Nhân Cơ Đắc Nông.
Điều khó hiểu là cả Bộ Chính trị, Chính phủ cũng như Quốc hội đều bỏ ngoài ta những phản biện của giới khoa học, nhân sĩ trí thức, về mối nguy chiến lược quốc phòng, thảm họa bùn đỏ và trước mắt là hiệu quả kinh tế. Trước rất nhiều ý kiến là nên dừng lại việc khai thác bauxite Tây nguyên dù đã thực hiện tới đâu, chuyên gia kinh tế TS Lê Đăng Doanh từ Hà Nội nhận định:
“Bauxite Tây nguyên thì đã có ý kiến ngay từ đầu, có ý kiến không đồng ý và đánh giá đó là một dự án kinh tế rất bất lợi. Đấy là chưa nói về vấn đề môi trường đang có những đe dọa rất lớn và đã có những công trình phân tích và ý kiến chính thức của Liên hiệp Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Nhưng rất tiếc là dự án đó vẫn cứ tiến hành và đã ra được những mẻ alumin đầu tiên.
Vấn đề bây giờ là sẽ vận chuyển như thế nào, nếu bằng ô tô thì sẽ lỗ rất to, hiện nay chưa đầu tư đường và các cầu thì không chịu nổi xe tải 30 tấn, đó là vấn đề rất khó khăn. Thứ hai nữa là cảng Kê Gà sau khi đã triển khai từ lâu rồi thì đến bây giờ vẫn chưa thấy khởi động gì. Vậy thì sẽ chở alumin đi đâu, nếu đi xa nữa thì càng lỗ lớn hơn. Cho nên tôi nghĩ đây là một thời điểm nên có sự đánh giá độc lập khách quan và Quốc hội nên chính thức có ý kiến và cách tốt nhất theo tôi là tạm dừng, trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay càng đầu tư vào đấy sẽ càng lỗ nữa thì không có lợi cho nền kinh tế Việt Nam.”
Một trong những diễn biến quan trọng nhất trong tuần mà Thanh Niên Online gọi là “Đối diện với sự thật”. Trong mục ‘Chào Buổi sáng’ đưa lên mạng ngày 21/2 nhà báo nhận định: “Thủ tướng Chính phủ đã quyết định dừng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà, không chỉ vì địa điểm xây dựng rơi vào ‘tọa độ chết’ mà còn bởi phương án đó không mang lại hiệu quả.
Thanh Niên Online nhận định: “quyết định dừng một dự án tốn kém mà không hiệu quả như cảng Kê Gà phải được coi là một quyết định cực kỳ dũng cảm. Và trên thực tế, còn rất nhiều vấn đề hệ trọng, chờ đợi bản lĩnh đối diện sự thật của nhà quản lý, của người lãnh đạo….”
Tờ báo nhắc lại là ngay từ khi các dự án khai thác bauxite Tây nguyên   được khởi động giới khoa học đã lên tiếng phản đối là không khả thi, khi thiết lập đường sắt vận chuyển, xây dựng cảng Kê Gà để xuất hàng. Riêng về dự án Kê Gà, Liên hiệp Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam thực hiện nghiên cứu cho thấy đây là vùng “biển chết” rất nguy hiểm, không phù hợp xây dựng cảng cả về mặt địa lý lẫn thủy văn. Vẫn theo Thanh Niên Online, thật đáng tiếc là lúc đó cả TKV và tỉnh Bình Thuận đều đã bỏ qua ý kiến phản biện và làm mọi cách để thuyết phục cấp cao hơn phê duyệt dự án.

Tại sao không tạm dừng

Bài nhận định của nhà báo Thanh Niên mô tả quyết định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dừng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà, là tránh được những bi kịch có thể xảy ra, nếu tiếp tục đầu tư cả tỉ USD để xây dựng cảng này trên cơ sở những luận chứng kinh tế sai lầm. Và dĩ nhiên TKV và tỉnh Bình Thuận sẽ phải bồi thường cho các nhà đầu tư trong vùng, vì các dự án của họ bị sa lầy trong một thời gian dài.
Trong cuộc phỏng vấn của Nam Nguyên thực hiện tối 21/2, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng hiện giảng dạy ở Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng nhận định:
“Nếu mình can đảm dừng lại lúc này thì có thiệt hại nhưng ít, nếu tiếp tục thì gây thêm thiệt hại càng lớn hơn cho đất nước. Tôi xếp hạng nguy hiểm bậc nhất là quốc phòng, tiếp đến là ô nhiễm môi trường, còn thiệt hại kinh tế ở bậc sau cùng. Thiệt hại quốc phòng thì ai cũng biết rồi, còn ô nhiễm môi trường thì có thể nói con em chúng ta không thể nào cạnh tranh được với đời, với các nước khác nếu bị ô nhiễm môi trường vào cuộc sống làm cho sức khỏe kém cỏi đi.”
Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng giải thích, khai thác bauxite ở Tây nguyên đã và đang phá hủy những nhân tố mặt đệm vì người ta bóc đi những hệ thực vật lâu năm. Điều này không những ảnh hưởng trực tiếp vùng Tây nguyên mà cả vùng hạ lưu, vì ông bà mình nói thủy mộc tương sinh, nghĩa là có những thảm thực vật mới giữ được mực nước ngầm trong sạch đưa về hạ lưu. Làm bauxite lỗ như thế ngoài ra còn có những cái lỗ chưa tính hết như ô nhiễm nguồn nước, Tây nguyên có độ cao 500m-700m so với vùng đồng bằng, bauxite thấm vào nguồn nước dưới hạ lưu, những hồ bùn đỏ mà vỡ ra nữa thì gây ra thảm họa không lường. Ngoài ra, đường xá phục vụ nhu cầu vận chuyển của người dân nay dùng để chở bauxite thì không thể được. Khai thác bauxite gây ra sự thiệt hại vô hình và hữu hình nhiều vô kể. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng nhấn mạnh:
“Tôi cho rằng chỉ có những người điên mới làm như thế, những người bình thường không ai làm như thế. Trong một xã hội mà quyền lực không bị khống chế như Việt Nam thì rất là nguy hiểm. Người ta có thể làm một thứ mà nó không có lợi lộc gì hết cho quốc gia dân tộc. Tất nhiên lợi lộc vào túi cá nhân nên họ mới làm như thế, xin nói thẳng. Nếu như không lợi lộc gì cho quốc gia dân tộc tại sao lại tiếp tục làm, nó phải có gì khuất tất không tốt đẹp ở phía sau.”

Người dân nghĩ gì?

Trong một bài khác đưa lên mạng cùng ngày 21/2, Thanh Niên Online cho là cần tính lại bài toán bauxite. Tờ báo trích lời ông Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Ban Quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng, theo đó giá thành alumin xuất xưởng tại Tân Rai nếu đạt 100% công suất cũng phải xấp xỉ 375 USD/tấn, chủ yếu dành cho xuất khẩu sang Trung Quốc và Malaysia. Nhưng do giá xuất khẩu theo đàm phán chỉ đạt 340 USD/tấn nên sẽ lỗ nặng, đó là chưa kể nhà máy Tân Rai dự kiến trọn năm 2013 chỉ sản xuất 300.000 tấn alumin tức 50% công suất, sản xuất ít thường thường giá thành sẽ cao hơn.
Người dân bình thường nói gì về lời kêu gọi ngừng các dự án bauxite để tránh gây thêm thiệt hại, thầy giáo Đỗ Việt Khoa ở Hà Nội phát biểu:
“Không hiểu quan trí ở Việt Nam, trình độ nhận thức của cán bộ các cấp như thế nào, hình như họ không có bằng cấp, trình độ chuyên môn để quản lý kinh tế, quản lý tài nguyên và đặc biệt là họ thiếu một thứ là tính dân tộc. Tôi cho rằng những kẻ tham gia việc này là những kẻ cơ hội phá hại đất nước. Nếu pháp luật có nghiêm minh thì nên lôi cổ họ ra để xử lý.”
Thanh Niên Online cùng ngày 21/2 trích lời bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhận định rằng, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay và thực lực của một tập đoàn nhà nước như Vinacomin (TKV) thì cách tốt nhất là tạm dừng dự án khai thác bauxite Tân Rai Lâm Đồng.
Theo lời bà Phạm Chi Lan, rõ ràng dự án bauxite Tân Rai không thể đem lại hiệu quả kinh tế. Việc tạm dừng triển khai dự án cũng là cách hạn chế thiệt hại. Vì nếu tiếp tục làm khả năng thiệt hại kinh tế sẽ lớn hơn rất nhiều. Bà Phạm Chi Lan cho rằng Việt Nam sẽ trở lại việc khai thác bauxite khi thế hệ mai sau có khả năng quản trị tốt hơn, cách thức tổ chức nền kinh tế tốt hơn hoặc thực lực nền kinh tế mạnh hơn. Nhưng điều quan trọng hơn cả là việc tạm dừng khai thác bauxite để xem xét lại đồng nghĩa với lòng tin được củng cố.
Nam Nguyên
Theo RFA

Bao nhiêu ý dân thì đủ?


Từ khi tôi trở thành công dân Đức, Hiến pháp Đức đã có 10 bổ sung, sửa đổi mà tôi không hề được hỏi ý kiến. Nhưng không chỉ riêng tôi. Hàng xóm, bạn bè, người quen, đồng nghiệp, tất cả đều như vậy. Nhân dân CHLB Đức chưa bao giờ được trưng cầu ý kiến về văn bản tối thượng mang tên Grundgesetz (Luật Cơ bản) của mình.
Nó được soạn thảo bởi 65 vị trong Parlamentarischer Rat (Hội đồng Nghị viện), dưới sự ủy nhiệm và kèm cặp của chính quyền quân quản Anh, Pháp và Mỹ sau Thế chiến II. Sau khi được thông qua với 53phiếu thuận và 12 phiếu chống trong Hội đồng Nghị viện, nó được trình cho ba chính quyền Đồng minh nêu trên xét duyệt. Sau khi được các Thống đốc Quân sự Anh, Pháp, Mỹ chấp nhận, nó được gửi đến các nghị viện tiểu bang để phê chuẩn. Sau khi được phê chuẩn, ngày 23-5-1949 nó được Hội đồng Nghị viện chính thức tuyên bố là văn bản lập quốc. Nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức cũ) ra đời với bản Hiến pháp ấy. Người dân – bốn năm trước còn sống trong Đế chế Quốc xã với Quốc trưởng Hitler – không trực tiếp, nếu không muốn nói là không tham dự vào quy trình lập hiến đó. Bản hiến pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch sử nước Đức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với áp đặt từ các thế lực ngoại bang.
Năm 1990, trong quy trình thống nhất nước Đức, nghị viện của các tiểu bang thuộc Đông Đức cũ cũng phê chuẩn và gia nhập Hiến pháp này mà nhân dân Đức ở cả bên Đông lẫn bên Tây đều không được trực tiếp biểu quyết. Trong 64 năm từ khi ra đời, Hiến pháp Đức có 59 bổ sung, sửa đổi, lần cuối cùng vào giữa năm ngoái. Không một lần nào có trưng cầu ý dân[1]. Song điều đó không cản trở nước Đức, không lâu sau sự ngự trị của cả hai chế độ toàn trị kinh hoàng của thế kỉ 20 là chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản trên lãnh thổ của mình, thành một trong những nền dân chủ trưởng thành và ổn định nhất trên thế giới.
Hiển nhiên mỗi quốc gia có con đường lập hiến của riêng mình. Trong cuộc thảo luận về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đang diễn ra ở Việt Nam, một trong những tiêu chí được nhấn mạnh không chỉ ở giới cấp tiến là quyền lập hiến của người dân. Báo chí Việt Nam, cả chính mạch lẫn ngoài luồng, tràn ngập những lời đòi hỏi, xác nhận và xiển dương nguyên tắc mọi quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân và thuộc về nhân dân. Trên mặt chữ, chưa bao giờ nhân dân được kính trọng, được gửi gắm nhiều tin cậy, được phó thác nhiều quyền lực như thế. Nhiều đến mức không thể không nghi vấn. Trong thực tế, những khái niệm trừu tượng này được thực hiện qua những hình thức và cấp độ khác nhau của trưng cầu ý dân (referendum).
Song trong những điều kiện hiện có, tôi rất hoài nghi giá trị của một cuộc trưng cầu như thế tại Việt Nam. Thậm chí tôi còn cho rằng thay vì thực hiện chức năng thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa xã hội lên phía trước, nó có nhiều nguy cơ kéo giật lùi tiến trình ấy về phía sau. Một phát đạn ngược nòng. Điều này không liên quan gì đến lập luận nhảm nhí rằng dân trí chưa cao thì chưa thể thi hành dân chủ, bởi lẽ một cuộc trưng cầu ý dân tại Việt Nam, đặc biệt ở hình thức cao nhất là toàn dân phúc quyết hiến pháp, có thể là tất cả mọi thứ, chỉ trừ là một hành động thực thi dân chủ.
Ai nắm trong tay mọi phương tiện có thể khuynh loát vô giới hạn tất cả các khâu trọng yếu của một cuộc trưng cầu ý dân trong thời điểm hiện tại, từ chuẩn bị nội dung cần đưa ra trưng cầu, tổ chức thông tin và quảng bá, tổ chức và giám sát bỏ phiếu, tổ chức và giám sát kiểm phiếu, đến đánh giá, công bố và thực thi kết quả? Ai có thể điều khiển, nhồi sọ và lừa mị dư luận bằng bộ máy tuyên truyền khổng lồ của mình? Ai có thể đe dọa cử tri bằng guồng máy đàn áp khét tiếng của mình? Ai có thể mua những lá phiếu bằng đủ thứ hứa hẹn ban phát ưu đãi và thậm chí bằng đất tươi và tiền mặt? Ai có thể tùy tiện chế biến, diễn giải và sử dụng kết quả bỏ phiếu theo ý mình? Những người đưa ra kiến nghị trưng cầu ý dân đã không quên đòi hỏi đi kèm, rằng nó phải được “tổ chức thật sự minh bạch và dân chủ với sự giám sát của người dân và báo giới“. Nhưng chỉ cần đặt tiếp một số câu hỏi đơn giản hơn – Báo giới nào? Người dân nào được chọn trên cơ sở tiêu chuẩn nào vào vai giám sát? Minh bạch theo đánh giá của ai?… – là có thể thấy rằng hiện tại, một cuộc trưng cầu đáp ứng được những đòi hỏi ấy là hoàn toàn bất khả thi.
Thêm vào đó, đa số dân chúng Việt Nam là những người đã có hơn một nửa thế kỉ để rèn luyện tinh thần cầu an và thụ động như những kĩ năng sống căn bản. Hai chục năm gần đây họ còn tích lũy thêm một kĩ năng đầy tinh thần thời đại khác: bàng quan với mọi vấn đề không trực tiếp đụng chạm đến quyền lợi của mình và gia đình. Họ cũng dễ bị tha hóa và đã bị tha hóa sâu sắc như chính những người cai trị họ. Tôi không có những con số cụ thể – tất nhiên, không ai có cả – nhưng theo cảm nhận riêng thì ước chừng 20% cử tri Việt Nam là những người từ trung thành đến trung thành tuyệt đối với chế độ hiện tại; 30% là những người có thể không ưa mặt này hay mặt khác của chế độ đó, ít hay nhiều có những bất mãn hoặc bất bình cục bộ, song hợp tác và gắn bó với chế độ về nhiều phương diện – kể cả phương diện sổ hưu. Vâng, vì sao không? – và không có nhu cầu thay thế nó bằng một chế độ nào khác mà họ chưa từng biết hay chỉ nghe nói loáng thoáng; 40% là những người không biết và không cần biết mình đang sống trong một thể chế nào, miễn sao cuộc sống thường nhật của mình được bảo đảm; 8% là những người mong muốn thay đổi thể chế chính trị bằng phép mầu từ lột xác của Đảng Cộng sản và liều thuốc thần tự cải cách của chế độ. Những người chủ trương thay thế toàn bộ hệ thống Đảng trị và công an trị hiện tại bằng mô hình dân chủ tự do phương Tây chiếm vỏn vẹn 2% còn lại – tức trên dưới 1 triệu người, tính một cách hào phóng, con số trong thực tế có thể khiêm tốn hơn rất nhiều.
Từ những hoàn cảnh ấy, không cần phải là một nhà tiên tri cũng có thể biết trước kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân tại Việt Nam. Không có gì dễ dàng và khôn ngoan hơn cho chính quyền Hà Nội, nếu nó cho diễn ngay lập tức một màn kịch như thế. Trong khói lửa của cuộc nội chiến, đầu năm ngoái Tổng thống Syria Assad đã thành công rực rỡ với nước cờ toàn dân phúc quyết hiến pháp, trong khi phe đối lập nỗ lực ngăn cản sự kiện này. Gần 90% cử tri tán thành bản hiến pháp mới, trong đó thậm chí nguyên tắc đa đảng được xác nhận. Nhà độc tài lại hoàn toàn chính danh. Trước đó, chính quyền không thể gọi là dân chủ ở Maroc cũng nhanh chân thoát khỏi áp lực của Mùa Xuân Ảrập bằng cách mở vài cái van phụ trong hiến pháp sửa đổi và có thể hài lòng với 98 % số phiếu thuận. Trưng cầu ý dân ở Ai Cập thì đem lại cho đất nước này một hiến pháp thần quyền, với nền tảng là Luật Hồi giáo Sharia, bất chấp sự cự tuyệt của chính các thẩm phán và các nhóm đối lập. Xa hơn một chút trong lịch sử, cuộc trưng cầu ý dân duy nhất trên lãnh thổ Việt Nam năm 1955 phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống đã không tặng cho người dân miền Nam một thể chế dân chủ đáng mơ ước. Xa hơn chút nữa, cuộc biểu quyết của toàn dân (Volksabstimmung) năm 1934 tại Đức với gần 90% số phiếu thuận đã đặt một nhân vật lên bệ phóng, để đẩy cả lịch sử đất nước này lẫn lịch sử thế giới vào một chương cực kì đen tối: Adolf Hitler.
Bao nhiêu ý dân thì đủ đảm bảo một hiến pháp tốt đẹp?
Tôi không ủng hộ đề nghị tổ chức toàn dân phúc quyết hiến pháp tại Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay.
Phạm Thị Hoài
Theo Pro&Contra

Bauxite Tân Rai, đôi điều chất vấn và kiến nghị


Ngày 18/2/2013, trao đổi với báo Sài Gòn Tiếp Thị (SGTT), ông Trần Văn Chiều, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết: “Trong 6 tháng đầu năm 2013 thì nhà máy bô xít Tân Rai sẽ vận hành ổn định. Trước đó, vào cuối tháng 12/2012 thì nhà máy đã cho ra lò mẻ alumin đầu tiên sau khi hoàn tất công đoạn ủ mầm hydrat, một công đoạn quan trọng cho việc sản xuất alumin. Dự kiến cả năm 2013 sẽ sản xuất được 300.000 tấn alumin, trong đó chủ yếu dành cho xuất khẩu mà nhiều nhất là xuất sang Trung Quốc, Malaysia và một số nước khác.” Tuy nhiên, ông Chiều chỉ nói lấp lửng rằng, với giá xuất khẩu 340 đô la Mỹ/tấn theo kết quả đàm phán mới đây thì TKV vẫn chưa có lời, nếu điều kiện thuận lợi thì sang năm 2014 việc xuất khẩu alumin mới bắt đầu có lãi (?) Điều đó có nghĩa là giá thành alumin của các vị đến cảng Gò Dầu (Đồng Nai) để xuất theo giá FOB cho khách ông Chiều giấu nhẹm, hay thực lỗ bao nhiêu trong năm 2013 này có lẽ cũng còn trong cái gọi là “bí mật quốc gia”!…
Chất vấn 1- Giá bán alumin:
Là người thường xuyên theo dõi, cập nhật tin tức về Bauxite Tây Nguyên, tôi đã có nhiều bài học kinh nghiệm trước cách đưa tin lấp lửng, tiền hậu bất nhất của các vị đại diện cho Bộ Công Thương và Tập đoàn TKV. Vì vậy tôi không tin vào giá bán 340 đô la Mỹ/tấn mà TKV đã công bố.  Ngân hàng Thế giới (WB) vừa công bố số liệu giá bán nhôm tháng 1/2013 tại thị trường chung của thế giới là 2.037,61 USD/tấn (giảm 2,35% so với tháng 12/2012 và có thể còn giảm nữa trong năm tài khóa 2013). Còn số liệu của thị trường Tây Âu -London Metal Exchange (LME) cho thấy giá bán nhôm (tiền mặt trả ngay) ngày 14/2 là 2.114 USD/tấn, giá trả sau kỳ hạn 3 tháng là 2.159 USD/tấn. Như vậy theo thông lệ, giá alumin kỳ hạn và giá alumin giao hàng ngay trả tiền mặt thường được so sánh với giá nhôm LME 3 tháng trên thị trường giao dịch kim loại Luân Đôn (LME 3-month price), dao động từ khoảng 9% – 19% và có giá trị trung bình bằng khoảng 13% giá nhôm LME trung bình 3 tháng. Vậy theo đó mà tính, giá bán alumin FOB tại cảng Gò Dầu năm 2013 không thể vượt quá 264,89 USD/tấn(tính theo WB 1/2013) hoặc là 280,67 USD/tấn (tính theo LME 14/2/2013). Trung Quốc và Việt Nam đều là thành viên chính thức của WTO, không thể không tuân theo quy luật giá cả chung trên thị trường thế giới. Cái gọi là giá bán trên trời 340 USD/tấn alumin (giá FOB tại cảng Gò Dầu) do ông Trần Văn Chiều nói khống lên hay lại là một chiêu lừa đảo mới của khách hàng Trung Quốc? Người đặt chất vấn chợt lục lại trong ghi chép cá nhân về tài phù phép giá thành và giá bán của các vị trong Bộ Công Thương và TKV trong hai lần công bố năm 2009 và 2010: Năm 2009, tại cuộc Hội thảo do Bộ Công Thương và Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức, ông Trưởng ban Bauxite của TKV Nguyễn Thanh Liêm công bố giá thành alumin tính đầy đủ và chính xác của dự án Tân Rai là 223 USD/tấn, và của dự án Nhân Cơ là 241 USD/tấn; còn giá bán qua điều tra (ông Liêm cho biết TKV phải mua thông tin nước ngoài tốn hàng trăm triệu!) alumin của dự án Tân Rai là 362 USD/tấn và alumin của dự án Nhân Cơ là 310 USD/tấn. Thế nhưng chỉ 1 năm sau vẫn công nghệ ấy, tình hình thị trường không có gì biến động mạnh, tại cuộc tọa đàm trực tuyến ngày 28/10 trên VnExpress, ông Liêm đại diện cho phía chủ đầu tư (TKV) cùng vị đại diện của cơ quan thẩm định (Bộ Công Thương) đưa ra những con số khác với lần hội thảo trước một trời một vực: giá thành alumin lúc đó được công bố của dự án Tân Rai là 265 USD/tấn và của dự án Nhân Cơ là 287 USD/tấn; còn giá bán alumin của dự án Tân Rai là 315 USD/tấn và của dự án Nhân Cơ là 330 USD/tấn. Các số liệu này chắc cũng đã được Bộ Công Thương một lần nữa thẩm tra cẩn thận và chẳng ai thấy ngượng vì sự tiền hậu bất nhất đối với hiệu quả kinh tế của một dự án trọng điểm quốc gia. Phải chăng lần này cũng vậy, khi công luận đưa ra con số giá thành của alumin Tân Rai do TS Nguyễn Thanh Sơn tính toán 12/2012 là không dưới 375 USD/tấn nên ông Chiều mới vội vàng công bố trên báo SGTT cái giá bán cực kỳ vô lý của alumin Tân Rai sắp xuất khẩu năm 2013 là 340 USD/tấn để trấn an dư luận, còn giá thành thì ông giấu nhẹm bởi nó chắc chắn lớn hơn nhiều so với hai lần công bố vừa nêu?…
Chất vấn 2- Vận chuyển alumin ra cảng Gò Dầu:
Theo công bố gần đây nhất của chính phủ, Dự án xây dựng cảng Kê Gà đã bị bãi bỏ. Như vậy để xuất khẩu 300.000 tấn alumin trong năm 2013 chỉ có thể vận chuyển bằng ô tô và theo kết luận của ông Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải (2012) có hai cung đường ra cảng Gò Dầu (Đồng Nai) hoặc cảng Cam Ranh (Khánh Hòa). Người viết nhận thấy cung đường ra cảng Cam Ranh (đi từ TL725 – QL 20 – QL27 – QL1 )xem ra khó khả thi vì đoạn QL27 địa hình rất phức tạp; còn các đoạn QL20, QL1 ảnh hưởng không nhỏ đến ngành du lịch của hai tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa. Cung đường ra cảng Gò Dầu (đi từ TL725- QL20- TL769- QL51) khả thi hơn, nhưng người viết lục lại trong sổ ghi chép chợt thấy có nhiều điểm cần chất vấn cho rõ. Tuyến đường cao tốc Dầu Giây- Đà Lạt dài 227,9 Km (QL20) phục vụ khai thác tiềm năng du lịch của tỉnh Lâm Đồng được Chính phủ ôm ấp và chỉ đạo từ lâu, nhưng đến nay vẫn chỉ là trên giấy với 3 lần thay đổi dự toán: Năm 2003, báo Tuổi Trẻ đưa tin ngày 27/8 ông Hoàng Trung Hải làm việc với tỉnh Lâm Đồng dự toán đầu tư 3000- 3500 tỷ đồng. Năm 2010, báo Vietnamnet ngày 22/6 đưa tin, cũng ông Hoàng Trung Hải làm việc với tỉnh Lâm Đồng, đưa con số dự toán lên 1 tỷ USD. Năm 2012, nguồn tin TTXVN ngày 23/12 cho biết Bộ GTVT bóp nhỏ dự toán chỉ còn 7648 tỷ đồng… Chỉ nhìn vào ba lần thay đổi dự toán đến chóng mặt vừa nêu cũng đủ thấy Chính phủ lúng túng trong Dự án đầu tư QL20 biết chừng nào. Nay trong lòng Dự án QL20 phục vụ du lịch lại bao chứa một tiểu Dự án 123 Km QL20 từ Dầu Giây đến ngã ba Lộc Sơn (thành phố Bảo Lộc) phục vụ vận chuyển alumin xuất khẩu trong năm 2013 với chi phí 4.467 tỷ đồng. Sự nhập nhằng trong đầu tư như trên chắc chắn sẽ phá vỡ quy hoạch tổng thể của hơn một nửa tuyến đường cao tốc Dầu Giây- Đà Lạt phục vụ du lịch dài 227,9 Km ai chịu trách nhiệm? Một dự án 10 năm còn nằm trên giấy, nay chỉ trong năm 2013 vừa thi công vừa vận chuyển alumin trên nửa chiều dài Dự án với lưu lượng và trọng tải lớn, liệu có an toàn và đảm bảo chất lượng hay vừa xây vừa phá? Lại nói về các đoạn tuyến còn lại gồm TL725 (thuộc Lâm Đồng) và  TL769, QL51 (thuộc Đồng Nai) đều có mặt đường nhỏ, chất lượng xấu, hàng chục cây cầu không chịu được tải trọng của loại xe 30- 40 tấn thì thử hỏi trong năm 2013 khắc phục bằng cách nào để đảm bảo vận chuyển xuất khẩu 300.000 tấn alumin thành phẩm chiều đi và cỡ ngần ấy tấn nguyên liệu (than cám, vôi, xút, dầu) chiều về?…
Kiến nghị:
Từ những nghi ngờ và chất vấn trên, người viết thấy rằng, không chỉ dừng ngay nhà máy Nhân Cơ (Đắc Nông) mà ngay cả nhà máy Tân Rai (Lâm Đồng) cũng nên dừng lại. Có người sẽ hỏi lại: “Đã lỡ đầu tư nay kiến nghị dừng cả 2 nhà máy thì lãng phí tiền dân hay sao?” Thưa rằng, không dừng còn thiệt hại khủng khiếp gấp nhiều lần hơn thế. Mặt khác, người viết trong nhiều bài viết trước đây từng gợi ý có thể qua vài năm, thậm chí 10 năm sau, nếu điều kiện cho phép ta vẫn có thể chuyển toàn bộ dây chuyền thiết bị từ Tây Nguyên ra Bắc xây dựng nhà máy ở Tam Lung – Lạng Sơn vì những lẽ sau:
- Công nghệ và thiết bị đã nhập từ Trung Quốc chỉ thích hợp cho loại quặng có nguồn gốc trầm tích ở Lạng Sơn, Cao Bằng, không thích hợp với loại quặng có nguồn gốc phong hóa ở Tây Nguyên.
- Quặng ở Lạng Sơn, Cao Bằng có hàm lượng cao (50- 60%) nên không phải qua giai đoạn sơ tuyển như quặng ở Tây Nguyên đang phải nâng hàm lượng từ 39- 40% lên 49- 50% mới đưa vào dây chuyền tinh tuyển.
- Trữ lượng quặng ở phía Bắc đạt 91 triệu tấn nên đủ cho một đời hoạt động của 2 nhà máy đã mua và lắp đặt ở Tân Rai và Nhân Cơ ít nhất là 50 năm.
- Trên thực tế, từ những năm 70 của thế kỷ trước, Nhà nước đã có chủ trương khai thác và tinh tuyển quặng Bauxite ở Tam Lung- Lạng Sơn. Hồi đó, đoàn địa chất 49 với sự giúp đỡ của chuyên gia Hung Ga Ri đã thăm dò tỉ mỉ phục vụ khai thác, tính toán đến cả góc dốc của công trường khai quặng và phác thảo quy trình công nghệ theo hình mẫu Hung Ga Ri. Ngày nay ta thừa sức đưa vào công nghệ còn tốt hơn nước bạn hồi đó.
- Vấn đề vận chuyển cho nhà máy đặt ở Tam Lung- Lạng Sơn không cần đặt ra vì ngay tại đó đã sẵn có ga xe lửa Tam Lung, chỉ cần nâng cấp là có thể theo đường sắt xuất qua Trung Quốc hoặc đưa về cảng Hải Phòng xuất cho các nước khác. Làm như vậy, ta hoàn toàn chủ động, không bị khách hàng Trung Quốc ép giá.
- Vấn đề môi trường vẫn cần đặt ra, nhưng nhẹ hơn nhiều vì mạng lưới sông suối vùng Tam Lung đổ ra sông Kỳ Cùng sẽ không chảy về thành phố Lạng Sơn mà chảy ngược  lên phía Bắc nên có rất ít ruộng canh tác, cư dân thưa thớt…
Hà Nội ngày 22/2/2013
Vũ Ngọc Tiến
Theo Viet-Studies

‘Bên Thắng Cuộc’ là cuốn sách gây biến đổi


Huy Đức đã mô tả cuốn sách của mình như một “lịch sử thực sự của Việt Nam”, tác phẩm đã giành được nhiều khen ngợi từ các nhà sử học cho rằng đây là một “cuốn sách trung thực” đem lại những hiểu biết mới mẻ mà không một học giả nào quan tâm tới Việt Nam trong thời kỳ thống nhất có thể bỏ qua.
Trước khi đánh giá cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, tôi xin lưu ý rằng tôi thuộc bên “thua cuộc,” gia đình tôi vượt biên bằng thuyền vào cuối năm 1981, và tôi vẫn còn có người thân ở Việt Nam được ứng xử như là những công dân “hạng hai” vì họ là bên đứng sai trong cuộc chiến.
Trên thực tế, tôi đã cố tình lựa chọn để nghiên cứu và giảng dạy các quan điểm phi cộng sản Việt Nam trước, trong và sau cuộc chiến Việt Nam.
Lý do tôi làm như vậy vì kinh nghiệm của miền Nam Việt Nam đã đang tiếp tục được bị “xuyên tạc” dưới thể chể Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tại Mỹ, lịch sử của Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) đã chịu thiệt thòi vì sự nhấn mạnh quá áp đảo về chủ đề “bài học” từ “kinh nghiệm của Mỹ trong chiến tranh”.
Hơn nữa, nhiều học giả người Mỹ gốc Việt của thế hệ chúng tôi đang chuyển đổi mục tiêu chính của các nghiên cứu Hoa Kỳ về Việt Nam vượt qua tiếp cận “nỗi ám ảnh chống cộng” của thế hệ cũ cũ đối với cuộc chiến này.
Đối với tôi, sự thất vọng là có nhiều tác phẩm sâu sắc của cả giới “tinh túy” và “bình dân” của người Việt Nam được liên kết với Việt Nam Cộng hòa sẽ không bao giờ được sử dụng trong các trường trung học và đại học ở Hoa Kỳ.
Liên quan đến nỗi thất vọng này là khi các tác phẩm liên kết với bên thắng cuộc được công bố, như của Bùi Tín và Huy Đức, đã không sự đánh giá lại các công trình có giá trị được viết bởi những người không phải là Cộng sản Việt Nam từng sống và trải nghiệm trong giai đoạn trước hậu-1975.
Chẳng hạn, Bùi Tín lập luận rằng sự thịnh vượng và ổn định thực sự cho Việt Nam chỉ có thể đến từ một nền dân chủ và Huy Đức kêu gọi các lãnh đạo hiện nay học hỏi (hoặc thừa nhận) các “sai lầm” của Đảng trong gian đoạn giải phóng, là những gì đang tạo nên cốt lõi của hệ tư tưởng và khát vọng của bên những người Việt Nam phi cộng sản.
Câu hỏi khi đó sẽ trở là liệu cái mới của các ông Bùi Tín và Huy Đức có đi xa hơn việc chỉ được coi là đóng góp của “người bên trong hệ thống” nhằm bổ sung cho những gì mà “những người bên ngoài” đã biết về phe thắng cuộc.
Và cũng không rõ liệu ông Bùi Tín và ông Huy Đức có thể có một tác động trong cuộc tranh luận về cách lãnh đạo có trách nhiệm – tức là giới chức không việc gì phải sợ việc nhìn nhận, ghi nhận và trình bày các sự kiện vì lợi ích chung- khi sách của họ phải xuất bản ở Paris và Boston.

‘Công dân làm báo’

Một câu hỏi đặt ra nữa là liệu cuốn “Bên Thắng Cuộc” có phải là về những công dân đang làm chuyển đổi diễn trình chính trị – xã hội của Việt Nam?
Trong nỗ lực để đánh giá khách quan cuốn sách của Huy Đức, tôi quyết định xem xét câu chuyện kể của tác giả thông qua lăng kính của một nhà báo công dân, trong đó Huy Đức nhấn mạnh rằng ông đang đưa ra sự thật, từ đó, xem xét xem công dân làm báo có thể tác động ra sao đến các lĩnh vực lịch sử và chính trị. Điều này có nghĩa là với sự xuất hiện của một xã hội dân sự chính trị và công nghệ trực tuyến toàn cầu, công dân làm báo ở Việt Nam đã truyền cảm hứng cho mọi người thảo luận và hành động trong kết nối với các hoạt động chính trị – xã hội.
Trong những năm gần đây, các chủ đề bao gồm chủ quyền quốc gia, quyền lao động, các về đất đai, dân chủ, và cải thiện quản lý để làm giảm tham nhũng và quyền lực độc đoán, mặc dù lãnh đạo Đảng vẫn muốn kiểm soát và quyết định dòng chảy của dân làm báo.
Với bối cảnh trên, có lẽ những điểm mạnh và điểm yếu trong cuốn sách của Huy Đức có thể được phân tích một cách khách quan hơn. Đối với tôi, đổi mới và sự tươi mới của cuốn sách của Huy Đức đến từ khả năng vận dụng báo chí của ông để tường thuật một sự kiện chính trị mà đi kèm là các yếu tố về “tính khả tín” và “độ tin cậy”, dựa vào các sự kiện lịch sử có sẵn, các phóng sự, hồi ức và các cuộc phỏng vấn.
Tránh sử dụng một số nguyên tắc báo chí cầu toàn, Huy Đức tiết lộ lý do tại sao ông viết cuốn sách và dường như ông có được sự độc lập trong suy nghĩ và cởi mở trước các chỉ trích.
Quan trọng hơn, tác phẩm của Huy Đức công khai những quan điểm, kinh nghiệm, và sự thật vốn thiếu vắng trong những công bố công khai của chính quyền Việt Nam, như chỉ ra việc các tướng Việt Nam Cộng Hòa tuẫn tiết vì tinh thần dân tộc mà họ đặt niềm tin; nói về những kinh nghiệm của những “kẻ thua cuộc,” những người phải trải qua các trại cải tạo, các chiến dịch đánh tư sản, và xóa bỏ văn hóa cũ của Sài Gòn, miêu tả cuộc đời bi thảm của nhiều thuyền nhân vượt biên, cùng với những người phụ nữ bị cướp biển hãm hiếp.
Tuy nhiên, tôi không nhìn công trình của Huy Đức như một công trình sử học, bởi vì ngay từ đầu, nó đã không đề cập những mối quan tâm về quá khứ – xét lại, sửa chữa, hoặc tái tạo lại quá khứ như nó vốn có. Thay vào đó, Huy Đức có vẻ chọn lọc và sáng tạo trong việc sử dụng quá khứ để minh họa cho các mối quan tâm đương đại.
Điều này bao gồm việc giải quyết các những tấn bị kịch hậu 1975 theo một cách thức hầu dĩ tránh được những sai lầm trong tương lai, để có thể hòa giải với phía “thua cuộc” bằng cách tìm kiếm sự thật, và để thống nhất những người Việt Nam bằng cách “ghi nhớ” Hoàng Sa và Trường Sa cùng cuộc giải phóng chế độ Pol Pot. Tuy nhiên, vì tác phẩm của Huy Đức không phải để viết sử theo nghĩa truyền thống, nó đích thị là lý do tại sao tôi nghĩ rằng cuốn sách là một sự kiện gây “xúc động” mạnh.
Bằng việc xuất bản cuốn sách trực tuyến mà không có bất kỳ một nhà xuất bản lớn nào đứng đằng sau nó, người Việt Nam có thể quyết định xem liệu tác phẩm của Huy Đức có phù hợp với quan điểm chính trị – xã hội cần có của đất nước họ hay là không.

‘Ai “giải phóng” ai?’

Nếu điểm mạnh của cuốn sách của Huy Đức về đất nước Việt Nam thời kỳ thống nhất chỉ mang tính “thúc đẩy, sắp xếp lại một số điều chứ không phải là vượt hẳn qua giới tuyến,” tôi tin rằng đây cũng là điểm yếu của cuốn sách.
Ví dụ, một luận điểm ngầm của tác phẩm của Huy có vẻ là về “thuyết vĩ nhân”, với các quan chức như Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, và ông Lê Đăng Doanh đã sử dụng ảnh hưởng chính trị của họ để đưa ra một con đường cải cách hầu sửa “sai” thành “đúng” trong tư duy.
Ở đây, vấn đề là tài liệu cho thấy các ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt đã được giao nhiệm vụ và đã theo đuổi chính sách loại bỏ chủ nghĩa tư bản ở miền Nam cùng văn hóa ‘tân thuộc địa của Mỹ’.
Có một mức độ đạo đức giả nhất định khi những người hăng hái nhất chứng minh lỗi lầm trong quá khứ của họ, cũng như ông Linh và ông Kiệt, và sau đó chính họ lại đòi lại sự lãnh đạo như những người cổ súy, chủ trương các cải cách “đổi mới” như một chân lý mới. Tuy nhiên, nói chung, cả hai ông Linh và Kiệt đều chỉ dám nói lên sự thật khi họ đang tìm kiếm quyền lực hoặc đã không còn nắm giữ quyền lực nữa.
Dựa trên các tác phẩm sử dụng các nguồn và lý giải trước đây đăng tải trên các báo Sài Gòn Giải Phóng, Nhân Dân và Tuổi Trẻ, điều có vẻ giống sự thật hơn được thấy là các hoạt động của những công dân không tuân thủ ở nhiều địa phương là những lý do cho một sự thay đổi trong định hướng quốc gia một cách có hệ thống.
Các tác phẩm loại này bao gồm “Việt Nam dưới chế độ cộng sản, 1975-1982 của Nguyễn Văn Cảnh (1983) và “Những mảnh vỡ của Hiện tại: Nghiên cứu đương đại về Việt Nam Cộng hòa” của Philip Taylor (2001).
Như thế, tôi tin rằng các công dân Việt Nam, những người đã dám bất tuân các chính sách mà họ cho là “sai lầm” từ 1975-1986 chính là những người đã thực sự cứu quốc gia không sa chân sâu hơn nữa vào thảm họa.
Tôi không quan tâm quá nhiều về việc liệu Đảng lãnh đạo có thể thừa nhận “những lỗi lầm lịch sử,”hơn là việc đảng sẽ thừa nhận những “sai lầm”để mà không để có bất cứ điều gì xảy ra với chính họ.

‘Một sự biến đổi?’

Một thiếu sót khác là khi Huy Đức kể về việc giải phóng của chế độ Pol Pot, mà không giải thích quan điểm của những người tị nạn Campuchia.
Tuy nhiên, từ những gì tôi đã đọc được, người tị nạn Campuchia có vẻ nhìn nhận thiên hơn rằng sự can thiệp quân sự của Việt Nam tại Campuchia là một cuộc “tấn chiếm,” là “cơ hội,” hay một hành động “cứu sống nhưng hà khắc”.
Đối với các học giả Mỹ gốc Campuchia, một số người đã thừa nhận rằng việc tiếp quản quân sự của Việt Nam tại Campuchia có thể được xem như là “giải phóng”, chứ không phải là một “cuộc xâm lược”. Tuy nhiên, đối với các học giả đó, việc “giải phóng” khỏi Khmer Đỏ đi kèm với “những di sản lịch sử” mà người Campuchia phải tiếp tục trả giá và chung sống.
Mặc dù vậy, tôi nghĩ rằng cho dù cuốn sách của Huy Đức là ‘bình cũ rượu mới,’ thì nó vẫn mở ra một câu hỏi.
Đó là, chính quyền sẽ có cho phép Huy Đức đi tiếp những khát vọng của ông tại Việt Nam sau khi kết thúc học bổng tại Đại học Harvard?
Đồng nghiệp của ông tại Việt Nam liệu sẽ có thể hỗ trợ để cuốn sách của ông có thể có mặt trên các giá sách ở các cửa hàng sách hay không?
Liệu các giáo viên lịch sử hay các giáo sư tiến bộ tại Việt Nam sẽ có thể sử dụng cuốn sách của Huy Đức trong lớp học của họ hay không?
Và rằng liệu công dân Việt Nam ở Việt Nam có thể bắt đầu viết blog về kinh nghiệm cá nhân hoặc kinh nghiệm của gia đình họ trong thời kỳ đất nước thống nhất hay không?
Đối với tôi, nếu một số câu trả lời là có, thì cách tiếp cận của Huy Đức kể lại về Bên Thắng Cuộc có thể được xem như là sự biến đổi.
TS Lê Sỹ Long
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, đang làm việc ở C.T. Bauer College of Business, Đại học Houston, Hoa Kỳ.
Theo BBC

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 2 năm 2013

Cái gì mua được bằng tiền thì đều rẻ cả


Năm ngoái, một ngôi chùa nổi tiếng Hà Nội thu về 6 tỷ đồng tiền lẻ, nêm cứng vào thành bao tải, chất đầy trong kho, phải nhờ cả bộ máy một ngân hàng kiểm, đếm suốt mấy tuần mới xong
Năm 2011, lễ phát ấn đền Trần đã chứng kiến một cảnh tượng hỗn loạn chưa từng thấy khi biển hàng vạn người áo quần nhàu nát, mặt mũi bơ phờ phá hàng quán xông vào đền, ép nhau đến cong rào sắt, đánh bật hàng rào cảnh sát cơ động để “xin” bằng được một lá ấn. Người ta thấy những nam thanh bò trên mái nhà, đu mình trên cây, dẫm đạp lên vai những nữ tú khác để “mua ấn”. Còn các nữ tú, người này ngất xỉu vì bị chen lấn, người khác cũng vén váy leo rào miệng không ngớt gào thét, cuối cùng cũng chỉ để giành bằng được một tờ giấy được gọi là ấn.

Căng thẳng. Khốc liệt. Thảm hại. Kinh hoàng…
Đêm đó, ở đền Trần, không còn là chuyện “xin ấn”, hay “mua ấn” nữa, mà là “cướp ấn”, “buôn ấn”, để thỏa cơn khát “cầu danh”. Không khó để nhận ra đằng sau cảnh hỗn loạn kinh hoàng kia, rằng một phong tục tốt đẹp bắt đầu từ thời các vua Trần giờ đã bị con cháu dung tục hóa, cho và vì cơn khát “cầu danh”.
Năm nay, rằm tháng riêng chưa tới, nhưng hai chữ “thảm hại” đã lặp lại nguyên si ở hầu hết các lễ hội.
Đó là kính thưa các loại sư giả bủa vây đền Bà Chúa Kho, vốn đã ngập ngụa trong những món đồ lễ “nhà lầu xe hơi” vô cùng dung tục. Nghiệp đoàn ăn xin nằm ngồi la liệt trước cửa đền ông Hoàng Bảy- Lào Cai. Tay, chân, đầu gối, thậm chí bụng, ngực các pho la hán chùa Bái Đính- Ninh Bình bóng nhãy thứ “nước trần” gọi tục là “mồ hôi” từ bàn tay du khách. Thịt thú rừng tràn lan ngay dưới chân Nam thiên đệ nhất động, bất chấp các cam kết và lệnh cấm. Và cảnh chặt chém, tràn lan nơi cửa phật, từ tiền gửi chiếc xe máy 50 ngàn ở Phủ Tây Hồ cho đến bát phở 200 ngàn bên hông chợ Viềng. Và “điểm nhấn” quen thuộc: tiền lẻ, ngập tràn mọi chốn cửa thiêng.
Tiền lẻ xuất hiện ở hầu hết trong số 7.966 lễ hội. Trên ban thờ, gốc cây, gềnh đá, dưới suối, cặp trong…nách các vị la hán, và trên bàn tay đức Phật. Người ta nhét bằng được tiền lẻ nơi chốn linh thiêng, có lẽ không ngoài mục đích gì hơn là “Xin bằng được, cầu bằng chết” bổng lộc, ân sủng của thần linh, của giời phật. Nói mua bán bổng lộc, hay hối lộ thánh thần, vì thế, cũng chẳng có gì sai cả.
Còn nhớ, vào đêm khai ấn đền Trần xuân Nhâm Thìn khách hành hương đã “hối lộ” cuồng tìn đến mức thi nhau ném tiền lẻ rào rào vào kiệu, những mong có được lộc thánh.
Với câu chuyện những câu tiền lẻ đang ngập tràn lễ hội, không vô cớ khi có người cho rằng đền Bà Chúa Kho giờ thuần túy chỉ là nơi là dân làm ăn cõi trần vay mượn cõi âm. Còn chuyện phát ấn đền trần, thành nơi mua quan bán tước.
Không biết thánh thần có nhận được “tiền lẻ” hay không, chỉ biết Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, hồi đầu năm “tiết lộ” rằng một ngôi chùa nổi tiếng Hà Nội sau Tết năm ngoái thu về 6 tỷ đồng tiền lẻ, nêm cứng vào thành bao tải, chất đầy trong kho và phải nhờ cả bộ máy ngân hàng Agribank chi nhánh Hoài Đức (Hà Nội) kiểm, đếm suốt mấy tuần mới xong.
Báo Tuổi trẻ, có lần trích báo cáo của Bộ VH-TT&DL nêu rõ: “Nhiều nơi lập nhiều bàn thờ, đặt hòm công đức và đĩa để tiền giọt dầu khiến du khách đặt nhiều tiền lẻ lộn xộn ở mọi nơi mọi chỗ, đặc biệt là giắt tiền giọt dầu tùy tiện vào tay tượng Phật, thậm chí có nơi người nhà chùa còn dán cả tiền vào đĩa để mồi du khách đặt tiền”.
Hình như, thánh thần chỉ nhìn thấy hai chữ “vụ lợi”. Và câu của các cụ luôn luôn đúng: “Cái gì mua được bằng tiền thì đều rẻ cả”.
Đào Tuấn
Theo Đào Tuấn blog (tựa bài của HDTG)

Suy Ngẫm Dưới Chân Tượng Đức Thánh Trần


Vẫn bức tượng uy nghi và trầm mặc gần bến Bạch Đằng quận I ấy mà sao hôm nay lại có sức lay động lòng người đến vậy. Chọn nơi đây, dưới chân tượng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, một lựa chọn tối ưu để dâng hoa tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống xâm lược cách nay 34 năm. Ngày ấy, 17.2.1979 hơn sáu chục vạn quân xâm lược đồng loạt tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc.
Và rồi, đúng ngày này, các tờ báo chính thống, những tờ báo in đậm các Huân chương cao sang trên “măng sét” để tự phong là tiếng nói của dân đều câm lặng không một lời nói đến những người đã ngả xuống trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Trung Quốc, trừ tờ Thanh Niên có bài của Thiếu tướng Lê Văn Cương, một tiếng nói hiếm hoi cất lên trong cái biển im lặng đáng sợ của một chủ trương nhất quán, được chỉ đạo sít sao, tuyệt vời bạo liệt và triệt để.
Theo một cách nhìn và cách nghĩ “tích cực” thì đây là một dịp cũng thật là tuyệt vời để nâng cao nhận thức cho toàn dân nhằm “quán triệt” một chủ trương, đường lối đã định hình từ một sự cam kết nào đó chưa dám nói ra. Không nói, song bằng sự câm lặng của tất cả các trang báo từ trung ương đến địa phương tuân theo cây gậy chỉ huy từ nơi cao nhất đã “nói” rất rõ ràng. Nếu lại gắn kết với cách hành xử của các thế lực cầm quyền từ to tới nhỏ đối với những vị lão thành cách mạng, các cựu chiến binh, những nhân sĩ trí thức và những thanh niên, sinh viên yêu nước dâng hương và đặt hoa ở những nơi trang nghiêm để tưởng niệm những người con yêu của dân tộc hy sinh vì sự toàn vẹn của tổ quốc, sẽ thấy rõ mồn một ai là ai đang ngự trị trên mảnh đất thiêng thấm đẫm máu Việt Nam này. Người ta đang cố cam kết giữ “tình hữu nghị“, không muốn để những người “cùng chung ý thức hệ” phật lòng nên đã nhẫn tâm quay lưng lại với đồng chí đồng đội, cam lòng bỏ quên một cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc giết hại hàng chục vạn đồng bào chiến sĩ của mình. Ai đó cố tình bỏ quên, nhưng lịch sử của dân tộc thì đã từng ghi xương khắc cốt tội ác quân xâm lược Trung Quốc đã gây nên trên toàn tuyến biên giới phía Bắc năm 1979, tiếp tục tội ác của bọn Pôn Pốt và bọn quan thầy Trung Quốc của chúng gây ra trên vùng biên giới phía Tây Nam năm 1978 khiến “trúc rừng không ghi hết tội, nước biển không rửa sạch mùi” như xưa kia cha ông chúng đã làm mà Nguyễn Trãi đã lên án trong “Bình Ngô đại cáo“. Làm sao có thể bỏ quên một cuộc chiến tranh làm đổ máu hàng chục vạn người con yêu của tổ quôc, máu người đâu phải là nước lã! Vì thế mà Trần Hưng Đạo “ ngày quên ăn, đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm rằng chưa được sả thịt lột da quân giặc dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa cũng cam lòng” từng viết trong “Hịch tướng sĩ ” để khơi động ý chí cứu nước của các tướng sĩ “sinh ở thời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan” không chịu “để tiếng xấu muôn đời” để không phải tự vấn lương tâm còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa“?
Vì thế mà nói, tập họp nhau dưới chân tượng Đức Thánh Trần là sự lựa chọn ” tối ưu” để tưởng niệm đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh nhân kỷ niệm ngày 17.2 bởi lẽ lịch sử là một nhân tố mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào có thể trường tồn và phát huy sức mạnh bất tận của nó được.Khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và ý chí quật cường thì vời đến vị tướng đã được nhân dân phong Thánh, “Đức Thánh Trần” thì còn có nơi nào bằng?
Bầu trời xanh một màu xanh khắc khoải bên trên bức tượng vì nó ẩn chứa quá nhiều những mông lung và cay đắng trong suy tư của những con người hôm nay đang tập hợp dưới chân Ngài, hình ảnh tiêu biểu nhất cho bản lĩnh, khí phách của dân tộc, biểu tượng tuyệt vời của tư thế hiên ngang, quật cường chưa bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù. Tại đây, một quá khứ gần và một quá khứ xa ít hay nhiều hòa quyện vào nhau trong sự đa dạng sống động của thời hiện tại đang có quá nhiều những nghịch lý và ẩn số. Cho nên, một ngẫu nhiên tình cờ cũng gợi lên sự thăng hoa trong liên tưởng, khi bất chợt các cột nước dưới chân tượng bật phun lên trắng xóa đúng lúc mọi người tề tựu chuẩn bị cho lễ dâng hoa tưởng niệm. Tường thuật lại hiện tượng này, một nhà thơ đặt câu hỏi : đây là sự ủng hộ ngầm của những người phụ trách công viên hay là một tình cờ tuyệt đẹp, hoặc phải chăng có phảng phất yếu tố tâm linh?
Mọi suy đoán đều có thể. Thì chẳng phải Nguyễn Đình Chiểu từng xúc động về “tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ” khiến cho “nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm” khi nghĩ đến những nghĩa sĩ bỏ mình vì nước đó sao? Làm sao lại không có sự xao động huyền ảo tâm linh khi nghĩ về những người đã ngã xuống vì lẽ tồn vong của Tổ quốc? Nhất là khi đứng dưới chân Đức Thánh Trần, biểu tượng chói sáng của lòng yêu nước thì làm sao ngăn được sức trào dâng của nỗi niềm đất nước trong tâm tư của những người đến đây hôm nay vì không muốn là kẻ “thấy quốc sỉ mà không biết thẹn” như Ngài đã trách mắng trong Hịch Tướng Sĩ!
Vị anh hùng dân tộc duy nhất được nhân dân phong Thánh ấy chính là biểu tượng cao đẹp nhất của người hết lòng vì nước, không bợn một chút toan tính riêng tư nhỏ hẹp vì lợi ích, quyền lực hay dục vọng của riêng mình. Dẹp bỏ tư thù,Vương không theo ý cha mình là Yên Sinh vương Trần Liễu,[anh ruột của Trần Cảnh tức là Trần Thái Tông] căn dặn trước lúc lâm chung phải giành lại ngôi báu, mà chỉ dốc lòng lo  cho trăm họ, toàn tâm vì việc nước. Khi Quốc Tảng, người con trai thứ hai, lộ ra ý muốn tranh đoạt ngôi báu, Vương tức giận mắng rằng “tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu này mà ra“, rút kiếm toan chém đứa con bất hiếu rồi dặn người con trưởng : “sau khi ta chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng“. Để giữ sự đồng lòng dốc sức đánh giặc, Vương chủ động xóa bỏ sự hiềm khích với Trần Quang Khải, con thứ ba của Trần Thái Tông, em ruột Trần Thánh Tông, nhún nhường không ngồi vào ghế tể tướng [Thái sư] của Chiêu Minh Vương để tiếp sứ, cho dù đó là sự sắp đặt của vua Trần Thái Tông. Không chút gợn tâm về cái ghế tể tướng, chỉ một lòng cứu nước, cứu dân, đấy chính là phẩm tính cao cả của Trần Hưng Đạo
Người dốc lòng lo việc nước cũng là người hiểu rõ sức mạnh của dân, không có dân thì không còn nước. Cho nên “khoan sức cho dân, lấy đó làm kế sâu rễ bền gốc” là tư tưởng chỉ đạo của người gánh trọng trách quốc gia. Được lòng dân là giữ được nước, mất dân thì sớm muộn nước cũng mất. Càng hiểu như vậy, càng thấy ý nghĩa sâu xa của tâm thế dân tộc tôn Trần Hưng Đạo là danh tướng bậc nhất trong lịch sử đất nước, hơn nữa với nhân dân, Ngài là một vị Thánh, không chỉ vì sự nghiệp hiển hách đánh tan tác đế quốc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII, mà còn vì phẩm tính cao cả của vị danh tướng bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Sâu sắc biết bao khi Trương Hán Siêu, tác giả của “Bạch Đằng Giang phú ” kết thúc áng văn bất hủ:“Sông Đằng một dải dài ghê, sóng xô cuồn cuộn trôi về Biển Đông. Những người bất nghĩa tiêu vong, nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh”.
 Kẻ bất nghĩa và người anh hùng thì đời nào chẳng có. Và dường như cũng thành quy luật, “kẻ bất nghĩa” bao giờ cũng phải đội cái lốt “chính danh” để lừa bịp người nhẹ dạ cả tin, tạo ra tình trạng vàng thau lẫn lộn, để dễ bề dựa vào bạo lực để giữ được quyền uy. Đặc biệt là ở vào thời đoạn của buổi thoái trào, thì chuyện này càng phơi bày rõ rệt. Trên dòng sông chảy xiết, ở những khúc quanh đổ ngoặt, váng bẩn nổi cả lên mặt nước! Nhưng điều đó không ngăn được sức cuộn chảy từ bên dưới! Ấy vậy mà sức cuộn chảy đó mới quyết định tốc độ của dòng sông xuôi về biển cả.
Trong dòng chảy thời gian, những triều đại sinh thành, hưng thịnh và rồi tiêu vong, chỉ có nhân dân là bất tử. Chuyện này không có gì mới! Một nghìn năm trước, thiền sư Vạn Hạnh đã gợi ra hình ảnh : “Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”, thịnh suy nối tiếp nhau chỉ như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ mà thôi! Cho nên, “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy”, ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy như vậy thì có gì đáng phải sợ hãi? Nhìn diễn tiến thịnh suy của một triều đại mà chỉ như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ, đôi mắt ấy đã thấu đến cái lẽ vô cùng. Vậy mà, ngẫm cho kỹ, đôi mắt ấy xem ra có cái gì đó rất hiện đại. Thì chẳng thế sao, Marcel Proust, văn hào hiện đại Pháp có câu nói bất hủ một cuộc thám hiểm thật sự không phải ở chỗ tìm kiếm những vùng đất mới, mà ở chỗ cần có đôi mắt mới”.
Đôi mắt mới ấy sẽ nhìn ra những điều mà một đầu óc hạn hẹp, thiển cận và nô lệ vào những định kiến và những tín điều ẩm mốc sẽ không thể nào nhìn ra được. Khi mà các cụ ta cách đây cả nghìn năm xem chuyện thịnh suy chỉ như hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ, thì chẳng phải đã xác lập một cách nhìn nhận sự vật trong mối tương quan biện chứng giữa động và tĩnh đó sao?  Vì rằng, “trong quá trình phát triển, tất cả những gì trước kia là hiện thực thì hiện nay trở thành không hiện thực, mất tính tất yếu, mất quyền tồn tại, mất tính hợp lý của chúng; và hiện thực mới, đầy sinh lực, thay thế cho hiện thực đang tiêu vong” đó là tri thức sơ đẳng về biện chứng của sự vận động và phát triển. Chỉ có điều, cái “hiện thực đang tiêu vong” ấy không dễ dàng nhường chỗ cho cái mới. Sự giãy dụa, cùng quẫy là đương nhiên! Mồm có thể rất sính nói về biện chứng nhưng não trạng và hành vi thì cố trì kéo cái cũ ruỗng nát và đang tiêu vong! Điều này chẳng lạ. Thì đó, Hégel quả là sâu sắc khi chỉ ra rằng mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá”.
Không thể coi thường sự giãy dụa của cái cũ trước áp lực của cái mới, vì cái cũ ấy đang được “tập quán thần thánh hóa“. Và chính cái quán tính lịch sử ấy đang hà hơi tiếp sức cho thực thể đã ruỗng nát tự bên trong, cố níu kéo cái không thể níu kéo. Vì thế, lịch sử lại chứng kiến những bi kịch của sự tô son vẽ phấn cái bên ngoài để che lấp cái bên trong ấy. Mà oái oăm thay, sự lừa mị ấy đôi khi vẫn có được thế thượng phong cho dù hết sức bấp bênh chao đảo, nhằm kéo dài cơn hấp hối. Vì vậy, bi kịch trở thành hài kịch, nói theo ý của Karl Marx ” là để cho nhân loại vui vẻ từ bỏ quá khứ mà đi tới“! Không coi thường, song cần nhìn cho ra cái xu thế tất yếu của quy luật vận động và phát triển, trong đó, phải nhận ra đượcsức vận động tự thân của khối quần chúng nhân dân, một “đa số thầm lặng” rồi sẽ là sức mạnh tạo những đột phá không sao lường trước được.
Dưới chân tượng Đức Thánh Trần hôm nay, niềm suy tư ấy càng bừng lên những cảm xúc mãnh liệt về truyền thống quật khởi của dân tộc ta. Quá trình diễn biến đầy kịch tính của đất nước ta đã chứng minh sức sống kỳ lạ của dân tộc qua những dấu ấn đậm nét của những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải trong cách thế ứng xử của ông cha ta.
Cứ vào lúc thời cuộc như dồn thế nước vào chân tường, thì cũng chính vào lúc ấy đã bật ra những giải pháp mang tính đột phá. Cũng trong bài phú vừa nhắc ở trên có một câu rất mộc mạc song triết lý ẩn chứa trong đó lại rất thâm trầm : “Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng, bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn .Đây là Trương Hán Siêu nhắc lại chuyện năm Đinh Hợi [1287] hơn 50 vạn quân Nguyên kéo sang phục thù. Vua hỏi “Giặc tới, liệu tình hình thế nào?” Hưng Đạo Vương trả lời : “Năm nay đánh giặc nhàn“! Phải có bản lĩnh thế nào mới thấy được cái thế “nhàn” trước mấy chục vạn quân xâm lược khi chúng hùng hổ kéo sang rửa hận cho hai trận thua nhục nhã.
Trước đó một năm, năm Bính Tuất [1286], Đại Việt Sử ký Toàn thư chép :” mượn cớ đưa người đầu hàng là Trần Ích Tắc về nước lập làm An Nam Quốc Vương. Mùa hạ, tháng 6…Vua hỏi Hưng Đạo Vương : “Thế giặc năm nay thế nào“? Vương trả lời : “… Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì phải sợ đi xa. Vả lại, chúng còn nơm nớp cái thất bại của Hằng Quán [tức Lý Hằng và Lý Quán bị giết trong cuộc chiến năm 1285] không còn chí chiến đấu. Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn“.
Rõ ràng là, quyết định thắng bại trong việc đánh giặc giữ nước tùy thuộc trước hết vào bản lĩnh, tầm nhìn của người gánh vác trọng trách quốc gia. Chưa đánh đã run sợ trước sức mạnh của kẻ thù thì chỉ có bó gối quy hàng và tìm cách lấp liếm cho sự ươn hèn ấy bằng sự ngụy biện về “mềm dẻo để tránh những quá khích gây nên thảm họa“. Cuộc sống đã bóc trần những “quỹ biện của ngôn từ” nhằm lừa mị những người thiếu thông tin! Không phải ngẫu nhiên mà lịch sử dân tộc tô đậm dũng khí của Trần Thủ Độ với câu “đầu thần chưa rơi thì xin Bệ hạ đừng lo“, ca ngợi khí phách của Trần Bình Trọng “ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”, đề cao bản lĩnh của Trần Hưng Đạo “Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã“!
Cả ba câu nói của ba nhân vật lịch sử mà các trò nhỏ mới cắp sách đến trường đã được biết thì đều nói đến chuyện sẵn sàng chịu đầu rơi! Tại sao vậy? Là để dạy cho mọi thế hệ Việt một cách thế sống sống ngẩng cao đầu. Sống cúi đầu không phải là cách sống Việt Nam. Đó là sự lựa chọn của dân tộc trong vị thế địa-chính trị oái oăm trứng chọi đá. Không thể dịch chuyển cái bán đảo hình chữ S này đi nơi khác nhằm tránh tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán muốn mở đường về phương Nam để gỡ cái thế bí của dân số quá đông. Vậy thì phải biết dạy cho con em Việt một cách sống “có cứng mới đứng được đầu gió“. Để khỏi nhắc lại ý mà người viết bài này đã nhiều lần đưa lên mặt báo, xin kết thúc bằng một đoạn văn súc tích của giáo sư Cao Huy Thuần về “Mười một chữ vàng” vừa đọc :
 Appeasement ” gồm 11 chữ, đúng là 11 chữ vàng vì đó là quốc sách của thủ tướng Neville Chamberlain, quốc sách của kẻ yếu sợ kẻ mạnh… Mười một chữ vàng của appeasement, Winston Churchill coi như là vàng giả, vàng để cúng âm hồn. Cúng ma thì được, cúng bá chủ thì Hitler vuốt râu mũi mà cười cho.
 Chamberlain từ chức vào tháng 5-1940 và chết nửa năm sau đó, tháng 11. Churchill lên nắm quyền, và chữ V của ông phất phới trên vinh quang của độc lập, tự do. V như là Victory, không phải V như là vàng…Chuyện lịch sử Munich này, ai mà không biết. Cho nên, dưới đây, tôi chỉ trích dịch vài tư liệu của văn khố lịch sử Anh cốt làm sống lại chút ít không khí thời đó, gọi là để kỷ niệm 80 năm ngày ra đời của một đại quốc bá chủ.Có thêm gì chăng nữa ở đây thì cũng chỉ nhắc lại câu nói danh tiếng của tổng thống Roosevelt: “Điều duy nhất mà ta phải sợ là chính là nỗi sợ hãi“. Câu nói sao mà tương tự một câu để đời của một bậc đại thần, chứa trọn cả linh hồn của một dân tộc chưa hề biết sợ: “Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã“! Dưới chân tượng Trần Hưng Đạo hôm nay, tất thảy lũ chúng tôi cứ vang vang trong đầu câu nói bất hủ ấy của Ngài.
Đức Thánh Trần đang nhắc nhở con cháu hôm nay một cách thế sống : Hãy ngẩng cao đầu mà sống. Những kẻ ươn hèn, bạc nhươc không phải là, không được là con cháu của Trần Hưng Đạo! Những suy ngẫm ấy như tăng thêm sức mạnh và nghị lực cho chúng tôi trong cuộc chiến đấu chống lại “ trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá“. Cuộc chiến đấu còn gian nan, nhưng kìa, “sóng xô cuồn cuộn trôi về Biển Đông. Những người bất nghĩa tiêu vong, nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh”.
Không dám nhận mình là anh hùng, chỉ dám lòng tự dặn lòng quyết không là người vong ân bội nghĩa với máu của dồng đội và đồng bào mình thấm đẫm trên từng thước đất của non sông gấm vóc cha ông để lại. Càng không thể để cho một cuộc chiến tranh cố tình bỏ quên vì sự vong ân bội nghĩa ấy. Đấy cũng là lời nguyền dưới chân tượng Đức Thánh Trần nhân ngày 17.2.
Xin mời mở dòng link dưới đây để thấy rõ điều đã viết ở bài này :
thấy rõ mồn một ai là ai đang ngự trị trên mảnh đất thiêng thấm đẫm máu Việt Nam này. Người ta đang cố cam kết giữ “tình hữu nghị“, không muốn để những người “ cùng chung ý thức hệ” phật lòng nên đã nhẫn tâm quay lưng lại với đồng chí đồng đội, cam lòng bỏ quên một cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc giết hại hàng chục vạn đồng bào chiến sĩ của mình“.
Tương Lai
Ảnh: Trước tượng đài Đức Thánh Trần, Sài Gòn; 2 - GS Tương Lai dõng dạc tuyên bố lý do buổi tưởng niệm (BoxitVN).
Theo Ba Sàm