Thứ Bảy, ngày 02 tháng 3 năm 2013

Thuế thu nhập từ tiền gửi tiết kiệm: Một kiến nghị vô lý

“Hiến kế” tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (Horea) đã gửi kiến nghị lên Thủ tướng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị áp dụng một số giải pháp cấp bách, trong đó có đề nghị “đánh thuế thu nhập lên tiền gửi tiết kiệm của nhân dân”(!)

Theo báo Pháp Luật TPHCM ngày 1/3/2013 (tại đây), tại cuộc họp các thành viên Horea ngày 28-2, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Horea, cho biết hiệp hội kiến nghị cần sửa ngay chính sách lãi suất tiết kiệm thực dương và chính sách không đánh thuế trên thu nhập từ tiền gửi tiết kiệm. Theo kiến nghị, tiền lãi thu được từ những khoản tiền gửi tiết kiệm từ 500 triệu đồng trở lên phải bị đánh thuế.
Mục đích của kiến nghị này, theo Horea, là nhằm hướng dòng tiền của người dân đổ vào đầu tư sản xuất kinh doanh thay vì gửi tiết kiệm ở ngân hàng. Ông Marc Townsend, Tổng giám đốc Công ty Tư vấn Bất động sản CBRE, cũng nói nếu lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại hiện vẫn từ 9%/năm trở lên thì người dân vẫn gửi tiền vô ngân hàng hơn là đầu tư sản xuất hay mua bất động sản. Mức lãi suất tiết kiệm phổ biến hiện thời là 8%/năm cho những kỳ hạn dưới 12 tháng.

Tôi chưa được xem toàn văn kiến nghị của Horea, nhưng với thông tin trên, đã có thể nhận định sơ khởi rằng lập luận của Horea tỏ ra sai lầm và mâu thuẫn với một số chính sách điều hành thị trường tiền tệ của Chính phủ.

Thứ nhất, không thể quan niệm rằng gửi tiền tiết kiệm là “không” sản xuất kinh doanh vì nếu không huy động được tiền tiết kiệm của người dân ngân hàng sẽ không có vốn cung cấp cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Người dân gửi tiền vào ngân hàng là một cách gián tiếp góp vốn cho sản xuất kinh doanh qua trung gian điều phối của ngân hàng.

Trong tất cả các hình thức đầu tư tài chính thì gửi tiền tiết kiệm được coi là kênh an toàn nhất, ít rủi ro nhất nhưng cũng là kênh đầu tư có lợi nhuận thấp nhất. Đa số người dân không có điều kiện, thời gian, kiến thức, kỹ năng và “máu me” để đầu tư cổ phiếu (chứng khoán), bất động sản, vàng/ngoại tệ, hàng hóa chiến lược (lương thực/xăng dầu/kim loại quý…) đã chọn việc gửi tiết kiệm ngân hàng như là cách thức đầu tư an toàn và hữu hiệu nhất cho những đồng tiền nhàn rỗi của mình. Đây cũng là cách đầu tư được ưa chuông của những người đã về hưu, những người trẻ dành dụm cho con cái về sau v.v…

Đánh thuế lên lợi nhuận từ tiền gửi tiết kiệm sẽ vô hình trung triệt tiêu phương thức đầu tư tài chính sơ đẳng này của người dân. Khi người dân không còn mặn mòi với tiết kiệm, hệ thống ngân hàng sẽ thiếu vốn và từ đó việc tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp cũng bị thu hẹp.

Thứ hai, để huy động được tiền nhàn rỗi của người dân, ngân hàng nhất thiết phải duy trì lãi suất tiết kiệm thực dương, nghĩa là lãi suất tiết kiệm phải cao hơn tỷ lệ lạm phát. Sẽ không ai gửi tiền cho ngân hàng nếu đến khi đáo hạn đồng tiền rút ra có giá trị thấp hơn đồng tiền lúc gửi vào do “trượt giá”. Không đánh thuế lên tiền lãi thu được từ tiền gửi tiết kiệm là một cách thức giúp duy trì lãi suất tiết kiệm thực dương và khuyến khích người dân gửi tiết kiệm, để thu hút đồng tiền vào ngân hàng.

Nếu thực hiện tốt chính sách này, Nhà nước sẽ giảm được việc vay nợ nước ngoài để tài trợ cho nền kinh tế, hạn chế được lạm phát và “bong bóng tài sản”. Ngược lại, nếu tiết kiệm không sinh lợi, không hấp dẫn, người dân sẽ bung tiền vào tiêu dùng, mua sắm, đẩy giá cả hàng hóa lên cao và sẽ chắc chắn sẽ có nhiều người mua vàng và đô la Mỹ để “trú ẩn”… dẫn tới sự phá sản của nhiều chính sách tài chính hiện hành về ổn định thị trường vàng, về tỷ giá hối đoái v.v…

Đề nghị đánh thuế vào tiền lãi tiết kiệm, các nhà kinh doanh bất động sản nghĩ rằng, dòng tiền nhàn rỗi của người dân sẽ chảy vào mua sắm nhà đất, làm sống lại “thời hoàng kim” của ngành này, nhưng kỳ vọng đó sẽ rất khó xảy ra vì tình hình hiện nay không giống những năm 2006-2008. Khi ấy tín dụng bùng nổ, tiền mặt từ các tập đoàn kinh tế nhà nước bung ra ngập thị trường, đẩy giá bất động sản và cổ phiếu lên mức cao chót vót, vượt xa khả năng thanh toán của người có nhu cầu, nhưng hiện nay thì tín dụng được kiểm soát kỹ, tiền mặt không dồi dào như trước nữa và nền kinh tế đang rất khó khăn.

Con đường duy nhất để vực dậy thị trường bất động sản hiện nay là giảm giá nhà đất xuống mức giá trị thật của nó và phù hợp với thu nhập bình quân của xã hội để người có nhu cầu có thể mua được nhà đất bằng thu nhập chính đáng của mình chứ không phải bằng cách vận động (lobby) để Nhà nước đưa ra những biện pháp chỉ có lợi cho nhà kinh doanh bất động sản mà có hại cho nền kinh tế nói chung.

Trên các mạng xã hội, đã có người chỉ thẳng ra rằng: “Kiến nghị này chứng tỏ lợi ích nhóm muốn chi phối chứ chẳng phải vì lợi ích toàn bộ nền kinh tế.Về nguyên lý thì chẳng qua họ đang muốn hướng dòng tiền vào các bất động sản đang ế ẩm!”.

Khi trình ra “kiến nghị” nói trên, các nhà kinh doanh ở Horea đã thấy cây mà không thấy rừng, chỉ quan tâm tới lợi ích cục bộ của doanh nghiệp mình, của ngành mình mà không để ý tới lợi ích toàn cục của xã hội. Mong sao Chính phủ sẽ không nghe theo những kiến nghị tai hại như thế này.
Huỳnh Hoa
Theo TBKTSG
 Cần đánh thuế thu nhập cá nhân khoản lãi thu được từ gửi tiết kiệm này. Tôi đã nghiên cứu kỹ ở nước ta người dân có được khoản tiền 500 triệu đồng để gửi NH không nhiều. Quốc hội nghiên cứu có thể nâng lên hoặc hạ xuống. Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA
Kiến nghị như vậy chứng tỏ không hiểu gì về nguyên tắc kinh tế, cũng như chính sách tài chính, tiền tệ. Muốn khuyến khích gửi tiết kiệm hay không các NH sẽ dùng các công cụ LS ngắn hạn, dài hạn, tăng hay giảm, chứ không phải là đánh thuế. Ông Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN

Bộ trưởng chân đất


Thưa Bộ trưởng Phạm Vũ Luận, ở miền núi, nhiều “các cháu” bé 3,4 tuổi vẫn phải đi chân đất tới trường. Nhưng đó không phải là biểu hiện của “dân dã”. Giá như có lúc nào đó ông đi chân trần lên miền núi để nhìn những bàn chân đất của những đứa trẻ vùng cao.
Ít hôm trước, một bài viết về Bộ trưởng Phạm Vũ Luận với nhan đề: “Bộ trưởng đi chân đất làm cách mạng giáo dục” được đăng tải trên báo Chất lượng Việt Nam. “Hôm đó, Tổng bí thư làm việc với Bộ KHCN và giới trí thức…Cánh phóng viên chúng tôi còn ấn tượng hơn khi thấy, trong buổi họp, Bộ trưởng thường bỏ dép để đi…chân đất, ngay cả khi ra ngoài nghe điện thoại. Sau này, khi tới đặt lịch phỏng vấn ông ở Bộ GD&ĐT, chúng tôi mới biết, khi làm việc, ông cũng hay “đi chân đất cho thoáng” như vậy”- bài báo viết.
Đó có thể là hình ảnh “bình dân” của một vị Bộ trưởng có thói quen gọi học sinh là “các cháu”. Nhưng đó cũng có thể là một biểu hiện về sự… luộm thuộm, đến phản giáo dục, của một giáo sư tiến sĩ, một nhà khoa học, một nhà quản lý, một chính khách, nhất là khi ông “chân đất” ngay cả trong buổi làm việc với Tổng Bí thư và các nhân sĩ trí thức.
Ngày hôm qua, sau khi những phản ánh của TS Trần Đăng Tuấn trên báo chí về về việc do chưa có thông tư liên tịch hướng dẫn về chi hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em vùng khó nên địa phương gặp khó khăn khi thực hiện, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận “đã chỉ đạo các Vụ, Cục liên quan khẩn trương rà soát để sớm ban hành”.
Theo giải thích của Bộ Giáo dục: “Ngay sau khi có Quyết định (60/2011/QĐ-TTg quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non, trong đó có nội dung hỗ trợ tiền ăn trưa cho các cháu 3,4 tuổi), Bộ GD-ĐT đã khẩn trương chủ trì phối hợp với các Bộ/Ngành liên quan soạn thảo thông tư hướng dẫn và ngày 13/6/2012 bản dự thảo đã được đưa lên mạng lấy ý kiến đóng góp. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện do vướng mắc một số khâu “kỹ thuật” nên cho đến nay thông tư này vẫn chưa được ban hành chính thức”.
Khen cho cái chữ “ngay” của Bộ trưởng. Quyết định 60 của Thủ tướng được ban hành ngày 26/10 và có hiệu lực từ 15/12/2011. Bộ chuẩn bị “ngay” mất 50 ngày. Sau đó, cũng “ngay” tới 6 tháng sau, dự thảo thông tư hướng dẫn mới được… đưa lên mạng. Và đến giờ, 16 tháng từ khi có quyết định 60, 14 tháng sau khi quyết định có hiệu lực, thông tư của Bộ vẫn “vướng mắc một số khâu kỹ thuật” và chưa được ban hành chính thức.
16 tháng, thời gian dài để phá kỷ lục về một thông tư bị bỏ quên khiến những quyết định mang tính chất an sinh xã hội cực kỳ cần thiết đến được tới cuộc sống, nhưng đủ dài để những đứa trẻ phải bỏ học vì không thể nhịn đói.
“Bây giờ mình không thiếu gạo, mình cũng viện trợ nơi này nơi khác, vậy tại sao để con cháu mình trong cảnh cháu mang mì, cháu mang ngô, cháu mang khoai đến lớp, rồi phải lợp chòi nấu ăn?”. Đây là câu hỏi không ít nhức nhối mà Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ra vào sáng 7-1.
Thưa Thủ tướng, câu hỏi của Thủ tướng có thể trả lời, rất dễ dàng, qua trường hợp những đứa bé “sôi bụng” hoặc săn chuột làm thịt trong khi chờ thông tư của Bộ Giáo dục hướng dẫn thi hành một quyết định an sinh mà Thủ tướng đã ký từ 16 tháng trước.
Thưa Bộ trưởng Phạm Vũ Luận, ở miền núi, nhiều “các cháu” bé 3,4 tuổi vẫn phải đi chân đất tới trường. Nhưng đó không phải là biểu hiện của “dân giã”. Nguyên nhân có khi đơn giản hơn nhiều: Vì tiền mua dép còn phải dành nuôi miệng. Giá như có lúc nào đó ông đi chân trần lên miền núi để nhìn những bàn chân đất của những đứa trẻ vùng cao.
Đào Tuấn

Một xã hội ngập tràn nỗi sợ


Sau thắng cuộc 1975, Việt Nam nổi tiếng trên thế giới là dân tộc anh hùng, một dân tộc kiên cường gan góc chống giặc ngoại xâm, một dân tộc có lòng yêu nước nồng nàn, đã mấy nghìn năm không bao giờ chịu khuất phục trước mọi thế lực ngoại bang xâm lược, thôn tính.
             Thế nhưng, hiện nay cả dân tộc đang đặt trước nhiều nỗi sợ, thậm chí bạn bè quốc tế còn đánh giá là hèn kém. Trước hết, người dân cả nước đã thấm đậm hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác, nay rất yêu chuộng hòa bình, và dĩ nhiên sợ chiến tranh. Chiến tranh đối với dân tộc Việt Nam là nỗi đau, dày đắp hy sinh xương máu hết đời này sang đời khác. Nay tuy đã 24 năm lặng tiếng súng kể từ sau hải chiến Trường Sa (1988), nhưng đất nước vẫn chưa có hòa bình. Nguy cơ chiến tranh vẫn rình rập cận kề. Rõ nhất là những ẩn chứa tiềm tàng những nguy cơ bùng phát chiến tranh biển-đảo, biên giới. Vì thế, nối sợ chiến tranh, nỗi sợ mất đi cuộc sống hòa bình cứ thường trực ngày đêm, canh cánh không yên lòng dân Việt.
          Đó là nỗi sợ lớn nhất.
       Về giới lãnh đạo, đảng cầm quyền đang rất sợ Đảng Cộng sản bị tiêu vong, và đã rõ những nguy cơ tiêu vong cận kề. Nguy cơ này, gần đây đã liên tục được báo động trong các nghị quyết, các hội nghị của Đảng. Đảng càng sợ mất Đảng, lại càng ra sức cảnh giác, đề phòng với những gì bị coi là nguy cơ làm mất đi vai trò lãnh đạo của Đảng. Vì thế, từ Ủy viên Bộ Chính trị, các Ủy viên Trung ương, đến đảng viên thường đều sợ mất Đảng, nhiều người đã tin là khó giữ được sự “tồn”, mà hiện trạng thế này rồi thì tình huống “vong” của Đảng xảy ra bất cứ lúc nào. Một đảng mà “một bộ phận không nhỏ lãnh đạo có chức có quyền suy thoái, biến chất” thì còn đâu sức sống? Tồn tại càng lâu thì tác hại đến xã hội càng lớn, chưa nói đến sức chiến đấu, vai trò lãnh đạo xã hội!
            Suy cho cùng, nhất là sau Hội nghị Thành Đô 1990, Đảng ta cứ liên tục đưa ra, có khi hô toáng lên nào là “diễn biến hòa bình”, nào là “thế lực thù địch”, nào là “ý chí phục thù bên thua cuộc”, nào là mầm mống phản động”, nào là phong trào dân chủ tự phát, đòi “đa nguyên đa đảng”…Nghĩa là, Đảng ta không yên tâm, toàn ý cầm quyền, mà lúc nào cũng sợ kẻ nào đó giật mất quyền của mình. Nhưng, gần đây,  những tiếng nói trung thực đã ít bị ruồng ép, khó bịt mồm, không dễ ngăn chặn, buộc phải công nhận. Đó là những đánh giá, nhận định, kết luận: Không ai phá, không có ‘diễn biến hòa bình”, “thế lực thù địch” nào khác, mà nguyên nhân chính là Đảng ta đã tự pha sbanh chính mình, từ trong nội bộ đã “tự diễn biến”, nghĩa là người cộng sản tự đào hố chôn mình! Phân tích cho rõ: “Diễn biến hòa bình” là sự mắc mưu Trung Quốc, họ muốn độc tôn với Việt Nam, muốn chính phục, chi phối Việt Nam từ chính trị đến đối ngoại, từ kinh tế đến van hóa-xã hội. Nghĩa là sự thôn tính thông qua cái gọi là “trỗi dậy hòa bình”, là thủ đoạn thâm độc của “xâm lược mềm”, chinh phục, thôn tính không cần chiến tranh.
            Vì thế, cái đích cần đạt tới của Trung Quốc trong chiêu bài ‘diễn biến hòa bình” là Việt Nam không được (tùy tiện) hòa hợp dân tộc, phải ghi hận thù với Mỹ và các nước phương Tây, cấm được “Âu hóa”, phương Đông ta chỉ nên tin và ‘chơi’ với phương Đông thôi; rằng tư bản là xấu, phương Tây là xấu và ác, chỉ có Trung Quốc là tin cậy, phải dựa vào Trung Quốc, phải nghe lời Trung Quốc, khi “ông anh” nói gì đều phải nghe…Rằng: Việt Nam phải hết sức cảnh giác, Mỹ, phương tây, cả Nga và các nước Đông Âu cũng không tốt, họ đang “diễn biến hòa bình” thâm độc, nguy hiểm, phải luôn luôn cảnh giác với họ. Nhất là số Việt kiểu ở Mỹ, thế lực hải ngoại thua cuộc từ 1975 đang rắp tâm đấy, Việt Nam cần cảnh giác…
              Đó là nỗi sợ mà Đảng ta đã gói chặt ôm về “gối đầu giường” từ sau Hội nghị Thành Đô, như một thứ bùa mê thuốc lú đã ngấm sâu vào thần kinh và nội tạng. Rồi sau đó lại sang tàu “ẵm về” 16 chữ vàng, 4 tốt, để mê muội, lú lẩn thêm, để bám Trung Quốc chặt hơn, chẳng khác nào Bạch Cốt Tinh hóa cô nằng xinh đẹp hút hồn thấy trò Đường Tăng vậy. Như thế, các vị, các cấp lãnh đạo và hơn 3,6 triệu đảng viên phải biết sợ chính mình trước khi sợ mất Đảng!
           Đối với người dân: Nỗi sợ thường trực, do sự chuyển hóa rất siêu nghệ của “chuyên chính vô sản”, từ chỗ (theo lý luận cách mạng Mác-xít) là chuyên chính với kẻ  thù, dân chủ với nhân dân, bỗng quay sang “chuyên chính với nhân dân”, chuyên chính vơi sngay nền dân chủ mà Đảng vẫn tự khoe là “ưu việt”, là “dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư sản”…Đã có quyền trong tay, thế lực đầy mình, lực lượng bảo vệ Đảngngày càng đông đảo, được chính quy hóa, nhất là công an, thanh bảo kiếm trung thành bảo vệ Đảng, ai mà không ngán? Dù bài hát ca ngợi chiến sĩ công an có đủ bộ 3: “Vì an ninh Tổ quốc ta đi /  được mang danh thanh bảo kiếm trung thành /  bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ tươi đẹp…”. Nhưng rồi lãnh đạo, chỉ huy, huấn luyện, giáo dục lực lượng công an rất tài. Chỉ thấy bảo vệ Đảng, không thấy bảo vệ nhân dân, và cũng qua đó mất đi ý nghĩa “chế độ tươi đẹp”. Chế độ cho ai, ai được hưởng, khi người dân thấy bóng, hoặc mới nghe nói đến công an là mỗi người đều có “phản xạ thường trực” phải cảnh giác, được yên thân là hơn hết?
            Một xã hội thời văn minh, hiện đại, thời toàn cầu hóa mà như bị co lại trong vỏ ốc, nhiều biểu hiện lạc hậu hơn cả thời phong kiến: Lãnh đạo sợ giặc thù, sợ “mất ổn định”; sợ không qua “nhiệm kỳ”; người dân sợ chính quyền, công an, sợ kẻ cướp, sợ côn đồ, xã hộ đen. Xem ra, từ lãnh đạo đến người dân, sợ quá hóa yếu, sinh hèn, bất cần, nhu nhược, không còn đâu chí khí, bản lĩnh, truyền thống Việt. Và do vậy, khối đại đoàn kết dân tộc bị vữa ra, tan loãng vô hiệu hóa. Đó là nguy cơ mất nước!
               Trong kháng chiến, Đảng kêu gọi lòng yêu nước, thi đua yêu nước, toàn dân đánh giặc, nuôi chí anh hùng; nhưng trong hòa bình, Đảng lại xem nhẹ, coi thường lòng yêu nước, làm nhụt chí anh hùng, xóa nhòa niềm tự hào  dân tộc. Mọi nỗ lực dân chủ đều bị khoanh hẹp, thậm chí triệt tiêu, quyền lực của dân bị chặt hết, đồng tiền có quyền lực tối cao, chức quyền ra sức thống trị; cả bộ máy quyền hành trở thành nỗi ngán ngại, sợ sệt đối với người dân.  Trong kháng chiến, cán bộ được người dân hy sinh cả tính mạng, của cải để bảo vệ; nhưng hòa bình rồi thì đảng không bảo vệ dân, còn ức hiếp dân, thậm chí nặng về quan liêu, mệnh lênh: “bảo cái gì dân cũng phải nghe”.  Nếu sợ nguy cơ tồn vong của Đảng, của chế độ cần nhận diện và thấu  suốt thực trạng đáng lo ngại ấy!
            Người dân trong một nước được mang danh rất kêu là “nhà nước dân chủ, của dân, do dân, vì dân”, một nước đã “tự do, độc lập” mà người dân không được hưởng quyền lợi gì, đụng đến một chút gì làm chính quyền phật ý là bị ghi sổ đen, bị theo dõi, bị bắt giam, bị quy chụp thành tội rồi tống giam, bất cần công ký, bỏ qua mọi thứ pháp luật.
Dân chủ ở đâu, khi nghe đài, đọc báo, mở mạng Internet, thậm chí cả khi chuyện vui, chuyện phiếm bàn trà, quán nhậu, bất kỳ nơi đâu đều bị theo dõi, bị cấm đoán, bị “quy vào” hết chuyện này đến tội danh tội trạng khác? Nói cái gì cũng phải nhìn trước ngó sau, tự biết canh chừng, sợ “ếch chết vì ộp ộp” thì đó là quyền gì? Nỗi sợ thường trực ngày đêm của mọi công dân, kể cả trí thức, nhà báo, đảng viên đến mức mát hẳn quyền con người, ăn không ngon, ngủ không yên là do ai gây nên?  Do quan điểm của Đảng bị đánh tráo, tư tưởng bị lọi dụng, bẻ cong?
            Lại nữa, dù rất phi lý: Nhà báo sợ viết sự thật, người nghèo sợ kẻ sẵn tiền, chính quyền sợ đại gia, người già sợ con nít, người dân sợ công an, công an sợ côn đồ, dân lành sợ lưu manh, làm ăn sợ đánh thuế, mua hàng sợ hàng gian hàng giả, ăn uống sợ độc hại, sợ nắc bệnh ung thư. Rồi nữa: Đảng viên sợ 19 điều cấm; đi bộ đội sợ hy sinh không được công nhận liệt sĩ, mộ chí không ai thắp hương đặt hoa tưởng niệm; người lao động sợ mất việc, học nghề sợ thất nghiệp, ra chợ sợ giá cả, ốm đau sợ không đủ tiền mua thuốc
            Những cái tưởng như “chuyện vặt” sinh hoạt thường ngày mà cũng khiến người ta sợ đến phát điên: Có của sợ mất cắp, ra đường sợ tai nạn, sợ đóng phí này kia, sợ không phải “xe chính chủ”, đi học sợ đóng tiền, không biết lót tay thầy thì ở lại lớp, đi viện sợ bác sĩ bỏ chết, xác chết sợ cấm đoán không cho con cháu nhìn mặt… Cứ như thế, nỗi sợ này kéo theo, dính chùm cùng nhiều nỗi sợ ập đến, mọi nỗi sợ nối tiếp nhau như những con cờ đô-mi-nô. Vậy thì tất cả do chế độ chính trị, do đường lối, chính sách, cách thức quản lý, điều hành nào gây nên?…? Dấu chân Việt Nam chẳng lẽ (vì thế) nhạt nhòa dần: … Tình chưa yên vui, bên sóng đời cuồng nộ / Chợt đêm chia phôi, ngăn cách một đại dương / Từng dài âu lo, từng quen đợi chờ. / Mộng thật cam go / Miễn là mai niềm đau thành nụ cười (Trầm Tử Thiêng). Tình người, tình đời, sao cứ làm cho nhau sợ,… “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” (Trịnh Công Sơn).
             Ôi, một xã hội mà từ vị lãnh đạo, từ ‘vua” đến dân, ai cũng canh cánh nỗi sợ, thì sao có thể gọi là tốt đẹp, là “ưu việt”? Làm sao mà phát triển được đất nước sánh vai với các nước? Cho nên, với hiện trạng này, câu kết trong các Nghị quyết Đại hội Đảng mà nhiệm kỳ nào cũng ‘bổ cũ soạn lai’ đọc đến phát ngán: “Phấn đấu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nay đã chứng minh chỉ là khẩu hiệu cửa miệng nhàm chán, vô nghĩa mà thôi.
Bùi Văn Bồng

Nếu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”?


Một vài bạn vừa chỉ cho mình vào trang web của Hội đồng Giám mục Việt Nam xem tin nóng. Theo đó, sáng 1 tháng 3, linh mục Dương Hữu Tình, Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGM VN), đã đến trao “Thư góp ý” của Ban Thường vụ HĐGM VN, cho Ban Biên tập Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Thư chỉ có bốn trang, do Giám mục Nguyễn Văn Nhơn – Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội, Chủ tịch HĐGM VN và Giám mục Hoàng Văn Đạt – Giám mục Giáo phận Bắc Ninh, Tổng Thư ký HĐGM VN, cùng ký (1).
Đọc xong thư góp ý của HĐGM VN mình thấy ái ngại cho bác Nguyễn Phú Trọng và bác Nguyễn Sinh Hùng.
1.
Bác Trọng vừa mới nhận định, những góp ý “sửa đổi Hiến pháp” đụng đến sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng là “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức”. Bác Hùng nối gót, góp thêm, đó là lợi dụng để “tuyên truyền, vận động nhân dân chống lại đảng, chống lại chính quyền”và tuyên bố “kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn”.
Mình tin, giống như các vị đã soạn “Kiến nghị 72” và những vị đã tuyên bố ủng hộ kiến nghị này, HĐGM VN gửi “Thư góp ý” sửa đổi Hiến pháp là dựa theo Chỉ thị 22 CT/TW do bác Trọng ký ngày 28/12/2012 và Nghị quyết 38/2012/QH13 do bác Hùng ký cùng ngày (2).
Bây giờ, nếu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” thật sự không phải là khẩu hiệu, chỉ nhằm trang trí cho cái gọi là “nhà nước pháp quyền XHCN”, nếu bác Trọng, bác Hùng không “liếm” lại những nhận định, tuyên bố mà các bác ấy mới “nhổ” ra, qua “Thư góp ý” mà HĐGM VN mới gửi, coi như các bác ấy mặc nhiên xếp HĐGM VN vào nhóm “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức”, lợi dụng việc góp ý sửa đổi Hiến pháp để “tuyên truyền, vận động nhân dân chống lại đảng, chống lại chính quyền” nên các bác ấy sẽ “kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn”.
Chửi, răn đe HĐGM VN như vậy, rõ ràng là vừa không ổn với Công giáo, vừa có dấu hiệu phạm tội “phá hoại chính sách đoàn kết”, quy định tại điều 87 của Bộ Luật Hình sự hiện hành.
Việc HĐGM VN gửi “Thư góp ý” sửa đổi Hiến pháp là chính đáng. Bác Trọng, bác Hùng không thể lăng mạ những người đứng đầu một tôn giáo, khi họ thực hiện trách nhiệm công dân theo đề nghị của hệ thống cầm quyền (Chỉ thị 22 CT/TW và Nghị quyết 38/2012/QH13).
Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, vô cớ xúc phạm những người đứng đầu một tôn giáo, rất dễ dẫn đến sự ngộ nhận là miệt thị chính tôn giáo đó và có thể gây ra nhiều hậu quả hết sức nghiêm trọng. Trừ khi đây là “chủ trương lớn của Đảng”, còn nếu không phải thì theo khoản c, điều 87 của Bộ Luật Hình sự, “gây chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân” là phạm tội “phá hoại chính sách đoàn kết”, hành vi này bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm.
Thậm chí, ngay cả khi chịu “liếm” lại những thứ mới “nhổ” ra, nếu luật pháp nghiêm minh, bác Trọng và bác Hùng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội… “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đối chiếu việc ký Chỉ thị 22 CT/TW,Nghị quyết 38/2012/QH13 và những nhận định, tuyên bố sau đó của bác Trọng, bác Hùng với phản ứng của nhân dân thì hành vi của các bác ấy có dấu hiệu vi phạm điểm b – khoản 1 “phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân” và vì đây là phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, cả bác Trọng lẫn bác Hùng có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm theo khoản 2 của điều 88 (trong tương lai, đề nghị các bác lãnh đạo Đảng nên hủy điều 88, nó có thể làm phiền cả các bác đấy).
2.
Tới đây, mình muốn “nói lại cho rõ”, phần 1 hoàn toàn là “nếu”. Nếu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” thật sự là nguyên tắc, ràng buộc cả Đảng, nếu công lý và sự công minh thật sự hiện hữu trong xã hội chúng ta đang sống thì làm gì có chuyện phải bàn như đã bàn, rồi phải giả định như đã giả định!
01/03/2013
Đồng Phụng Việt
—————————-
Chú thích:
Theo FB Đồng Phụng Việt (tựa bài của HDTG)

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 3 năm 2013

Thư góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp của Ban Thường vụ HĐGMVN


Sáng nay, 01-03-2013, linh mục Giuse Dương Hữu Tình, Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), đã đến và trao Thư góp ý của Ban Thường vụ HĐGMVN cho Thường trực Ban biên tập – Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tại số 37 Hùng Vương, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn Thư góp ý của Ban Thường vụ HĐGMVN

“Nói với mình và các bạn”: Vẻ đẹp của chính trị


Chỉ còn không đầy một tháng nữa, công cuộc “toàn dân góp ý sửa đổi hiến pháp” sẽ kết thúc. Người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã tỏ rõ quan điểm rằng các đề nghị bỏ Điều 4 Hiến pháp, đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập và phi chính trị hoá quân đội, đều là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức. Đây là một cách bác bỏ Kiến nghị 72 do một số nhân sĩ, trí thức khởi xướng. Một kiến nghị khác, của các sinh viên và cựu sinh viên luật, yêu cầu huỷ bỏ thời hạn góp ý và tổ chức để nhân dân thực hiện quyền phúc quyết, chắc chắn sẽ chẳng hề được đếm xỉa.
Điều này đúng như một dự đoán phổ biến của dư luận, ngay từ đầu, rằng tất cả chỉ là một màn kịch. Từ quan điểm đó, đã có những tuyên bố sẽ không tham gia, không hưởng ứng, thậm chí không buồn theo dõi “trò hề”. Cũng có những ý kiến cho rằng người lên tiếng hoặc ký kết kiến nghị là ngây thơ về chính trị, ảo tưởng về Đảng, và là thiểu số giữa đại đa số người dân Việt Nam thờ ơ, xa lánh chính trị.
Nhưng nếu bỏ qua những thứ gây bực mình và ức chế, như các phát biểu đầy lỗi nguỵ biện của người này kẻ kia, hay màn bút chiến của một số cơ quan truyền thông quốc doanh hàng đầu, liệu có thể nhìn vào một khía cạnh tích cực hơn, rằng đây là một dịp rất tốt để tất cả chúng ta cùng tìm hiểu về hiến pháp, về luật pháp, về tinh thần hợp hiến, về nhân quyền và dân quyền…?
Người viết bài này còn mong muốn hơn thế nữa: Đây là một dịp khuyến khích tất cả chúng ta – những người dân Việt Nam, nhất là các bạn trẻ – thử quan tâm một chút đến chính trị xem sao?
Loạt bài sau đây, mang một tựa đề chung là “Nói với mình và các bạn: Vẻ đẹp của chính trị”, nỗ lực để được là tập hợp một số bài viết có tính chất nhập môn cho độc giả, nhất là các bạn trẻ, về chính trị, về sự tham gia, về tự do ngôn luận và sự phân biệt giữa tự do ngôn luận với xúc phạm người khác, về hiến pháp, quyền lập hiến và quyền tẩy chay hiến pháp, bất phục tùng dân sự.
* * *
Kỳ 1: CHÍNH TRỊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẤT CẢ CHÚNG TA
Điều đầu tiên cần khẳng định là trong một xã hội tôn trọng đa nguyên, thì mọi người đều được tự do thích, theo đuổi, hoặc không thích, không theo đuổi cái gì đó. Nghĩa là người có thể đi làm kinh doanh, kẻ thì dấn thân cho sự nghiệp khoa học, một số khác lại đam mê nghệ thuật. Không nhất thiết ai cũng phải lao vào các hoạt động “vì cộng đồng” hoặc phải hăng hái đọc báo, xem tivi, nghe đài, hăng hái bàn luận về những vấn đề vĩ mô… Không phải nhất định chỉ có xả thân và cống hiến, “là con của vạn nhà, là em của vạn kiếp phôi pha” thì mới được xem là có “thời thanh niên sôi nổi” và tươi đẹp. (Nhưng tất nhiên, cũng phải thừa nhận là giữa các ngành nghề, các nhóm công việc khác nhau, có những nghề mang lại sự thú vị cao hơn cho người thực hành chúng – mà chính trị là một trong số đó).
Song, có một khoảng cách giữa thái độ không thích, không quan tâm, không dây dưa (đó là quyền của bạn, và là điều được chấp nhận, trên tinh thần đa nguyên), và sự kém hiểu biết về chính trị (có thể dẫn đến sự vô cảm).
Chính trị là quá trình ra quyết định và thực thi quyết định đó trong một nhóm, một cộng đồng bất kỳ, có thể ở quy mô một xã hội, đất nước. Bạn sẽ thấy ngay rằng, mâu thuẫn, xung đột là một phần tất yếu của quá trình ấy; hay nói cách khác, một trong các đặc điểm của chính trị là sự mâu thuẫn, xung đột. Chẳng quyết định nào, chẳng chính sách nào có thể đạt được đồng thuận. Vấn đề của tất cả mọi người là làm thế nào để giảm bớt tác hại của mâu thuẫn, xung đột ấy, dù không phải là triệt tiêu nó; nhưng đấy là chủ đề của những bài viết khác. Ở đây, chúng ta biết rằng chính trị thì phải mâu thuẫn.
Một nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ, ông Austin Ranney (1920-2006), từng viết: “Chắc chắn, trong bất kỳ xã hội nào, cũng có rất nhiều mâu thuẫn trong những lĩnh vực ngoài chính trị, như kinh tế, học thuật, thể thao, và hôn nhân. Cái chính là không một xã hội nào – truyền thống hay hiện đại, tiến bộ nhiều hay ít, dân chủ hay độc tài – lại hoàn toàn không có mâu thuẫn chính trị cả. Và trong xã hội hiện đại, mọi mâu thuẫn xoay quanh vấn đề giá trị (cái gì tốt hay xấu, tốt nhiều hay tốt ít, xấu nhiều hay xấu ít, lợi hay hại, nên hay không nên… – ND) sớm muộn đều trở thành mâu thuẫn chính trị”.
Mà cuộc sống của bạn thì lại luôn đầy những xung đột, mâu thuẫn phải giải quyết. Nói cách khác, bạn luôn phải đối diện và xử lý mâu thuẫn.
Thế nghĩa là dù làm gì, bạn cũng không thoát khỏi tầm ảnh hưởng của chính trị được đâu.
Ngay trong lớp bạn, trường bạn, Ban Giám hiệu thay toàn bộ giảng viên từng du học ở Liên Xô bằng giảng viên học ở Mỹ về, đã là một quyết định chính trị ảnh hưởng đến bạn rồi. Bạn vận động thầy cô, bạn bè, để nam và nữ sinh viên đều có thể bơi chung bể trong môn thể dục hoặc ngược lại, nhất định phải tách riêng họ ra, đã là làm chính trị rồi.
Trong cơ quan, bạn khen ngợi anh A, ném đá chị B, dìm cô C, nâng chú D, để cho sếp chú ý đến bạn hơn một chút, hoặc để các đồng nghiệp yêu quý bạn hơn, đều là làm chính trị cả. Kể cả bạn quyết định không tham gia bè phái, chỉ tập trung chuyên môn thôi, đó cũng là một quyết định có tính chất chính trị và ngay cả khi ấy thì bạn cũng vẫn sẽ chịu ảnh hưởng từ sếp, từ đồng nghiệp, từ các chính sách của cơ quan.
Chính trị bao trùm như thế. Vấn đề là điều ấy không xấu như bạn nghĩ. Nếu bạn vận động thành công để trường lớp, cơ quan, tổ dân phố, ra những chính sách có lợi cho bạn và những người bạn ưu ái, thì bạn sẽ thấy chính trị tốt quá, phải không? Và có một nghịch lý thú vị mà Austin Ranney chỉ ra, là trong khi người ta khinh ghét chính trị gia, coi chính trị là bẩn thỉu, thì người ta cũng lại ngưỡng mộ các vị lãnh đạo nhà nước, các nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ, và luôn thấy họ đẹp, họ đúng, họ sáng suốt…
Vậy vì sao bạn không quan tâm đến chính trị, đến công cuộc sửa đổi hiến pháp – đạo luật “nguồn của mọi đạo luật”? Chúng ảnh hưởng đến bạn kia mà.
Đoan Trang
Kỳ sau: “Tham gia chính trị” là làm gì và để làm gì?

THƯ NGỎ của GS Tương Lai gửi ông Nguyễn Phú Trọng


Kính thưa anh Nguyễn Phú Trọng,
Tôi dùng cách xưng hô này để tiện cho nội dung thư sẽ viết với tư cách của một người có hân hạnh được quen biết Anh. Đúng hơn là biết, chứ chưa dám nói làquen, vì tôi cũng chỉ gặp và nói chuyện với anh đôi ba lần kể từ dạo anh làm Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản và có mặt trong buổi tôi báo cáo với Tổng bí thư Đỗ Mười và Bộ Chính trị về cuộc Khảo sát xã hội học về Cơ cấu xã hội và Phân tầng xã hội, một đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước. Theo lời thuật lại của Chu Hảo, lúc ấy là Thứ trưởng Bộ KH và CN ngồi cạnh Anh, thì anh đã nhận xét về tôi “Tay này báo cáo với Tổng Bí thư và Bộ Chính trị mà cứ nói khơi khơi như nói trước Hội đồng Khoa học của Viện không bằng !”.
Lần gặp gần đây nhất là ngày 17 tháng 1 năm 2011 tại Hội trường Hội nghị Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở Hà Nội. Có thể Anh quên vì bận nhiều việc nên tôi xin được nhắc lại : Hôm ấy, khi tôi đi đăng ký phát biểu ý kiến với Đoàn Chủ tịch Hội nghị, ngang qua chỗ Anh ngồi, Anh đã chủ động đứng dậy chào gọi và bắt tay tôi. Tôi cảm kích về cử chỉ thân thiện này, biết rằng thế là Anh vẫn nhớ tôi, nên đã bắt tay Anh rất chặt và nói “Xin chúc mừng Tân Tổng Bí thư“.
Anh cười và hỏi : “Chúc mừng cơ à?”. Tôi đoán biết và mang máng hiểu ra Anh đang nghĩ gì và định nói gì, nên cũng vui vẻ trả lời “Phải chúc mừng chứ. Hãy cứ chúc mừng đã. Và rồi tôi sẽ dõi theo công việc của Anh làm, hành động và ứng xử của Anh với tư cách Tổng Bí thư, để rồi có tiếp tục chúc mừng hay không là chuyện về sau, còn bây giờ thì phải chúc mừng đã”.  Cả Anh và tôi cùng cười. Những người đứng cạnh cũng cười vì tôi vốn nói to, mọi người đều nghe và nhìn thấy. Nhắc lại chuyện này để nói rằng, hai năm qua, dõi theo những công việc Anh làm, quả thật tôi nghĩ là phải rút lại lời chúc mừng đã đưa ra với Anh hai năm trước. Vì sao?
Vì chưa lúc nào vận mệnh của đất nước lại bấp bênh, chao đảo như hiện nay khi mà bàn tay của Trung Quốc đã thọc quá sâu vào mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước,của đời sống đất nước ta. Chính vì thế, chưa bao giờ uy tín của Đảng xuống thấp đến vậy. Điều này liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của Tổng Bí thư. Thực trạng này được phơi bày quá rõ ràng mà chính Anh, cũng như nhiều người giữ vị trí cao trong bộ máy cầm quyền, đã nhiều lần trực tiếp hoặc gián tiếp nói ra, chứ chẳng phải do “những phần tử thù địch” nào bôi nhọ cả!
Đành rằng với nguyên tắc “lãnh đạo tập thể“, cả Bộ Chính trị, và toàn thể BCHTƯĐ phải chịu trách nhiệm, tuy nhiên, với trách nhiệm là người đứng đầu BCHTƯ, Tổng bí thư là người phải gánh vác, không thể đổ cho ai được cả.
Trong bức thư này chưa thể nói nhiều về thực trạng của đất nước mà người Tổng bí thư phải chịu trách nhiệm, xin chỉ nêu lên hai điều trực tiếp nhất và gần đây nhất đã làm trầm trọng thêm sự mất uy tín của Đảng, gây bức xúc trong lòng dân : Một là phát biểu tùy tiện của Tổng Bí thư tại Vĩnh Phúc gây phẫn nộ trong công luận, và hai là sự câm lặng của Đảng, Nhà nước và cả Hệ thống chính trị trong ngày 17 tháng 2! Cái ngày mà cách đây 34 năm, hơn nửa triệu quân Trung Quốc xâm lược theo lệnh của Đặng Tiểu Bình đã tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc, gây nên tội ác tày trời đối với đồng bào ta, hàng van chiến sĩ ta đã hy sinh trong cuộc chiến đấu đánh trả quân xâm lược, buộc chúng phải tuyên bố rút quân.
Trong phạm vi bức thư ngắn này, tôi chỉ đề cập đến hai vấn đề nói trên để mong được Anh xem xét và cho tôi câu trả lời.
Quả thật, tôi quá sửng sốt khi nghe anh nói : “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chứ gì nữa? Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy. Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? Tham  gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì…ì? Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này.”
Sửng sốt vì không thể hình dung được đây là lời của Tổng Bí thư, một người vốn tính thận trọng, lại tùy tiện quy kết một cách hồ đồ như vậy. Sẽ quá dài dòng và có lẽ cũng chưa là thật sự cấp bách vào lúc này để chỉ ra sự lẫn lộn, nếu không muốn nói là đánh tráo khái niệm, khi Tổng Bí thư nói đến “các luồng ý kiến” được nêu lên trong dịp các tầng lớp nhân dân đóng góp ý kiến vào Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp theo Nghị quyết và lời kêu gọi của Quốc hội, lại là “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống“.
Là một trong những người đã ký vào Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992, tham gia vào đoàn đại biểu do ông Nguyễn Đình Lộc làm trưởng đoàn đến 34 Hùng Vương Hà Nội để trao bản Kiến nghị đó cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 kèm theo một Dự thảo Hiến pháp mới để tham khảo, tôi hết sức bất bình về quy kết hồ đồ của Tổng Bí thư đối với một số điểm trong nội dung của 7 vấn đề mà bản Kiến nghị của chúng tôi đã chuyển cho Ủy ban Dự thảo nói trên. Tuy vậy, trong thư ngỏ này, tôi chỉ nói ý kiến của riêng tôi và chịu trách nhiệm về những điều tôi nói trong bức thư này.
Phải nói thêm là, đoàn đại biểu chúng tôi đã được Ủy ban Dự thảo tiếp đón trọng thị và tiếp nhận Kiến nghị có 72 chữ ký cùng với Dự thảo Hiến pháp 2013. Một số phóng viên báo đến dự và sau đó một số báo đã đưa tin về cuộc gặp này. Trong thư gửi ông Nguyễn Đình Lộc, người dẫn đầu đoàn đại biểu đến trao Kiến nghị, ông Ủy viên Ủy ban, Trưởng Ban Biên tập đã cho biết là “những điều nêu trong Kiến nghị nói trên sẽ được tập hợp, nghiên cứu trong quá trình chỉnh lý dự thảo sửa đổi Hiến pháp”. Vậy thì, khi Tổng Bí thư quy kết ” vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chứ gì nữa? ” liệu có phải là nhằm vào những vấn đề mà bản Kiến nghị của chúng tôi nêu lên không? Nếu vậy thì Nghị quyết và lời kêu gọi toàn dân góp ý kiến vào việc Sửa đổi Hiến pháp của Quốc hội còn có giá trị gì nữa khi mà những ý kiến trái tai lãnh đạo thì bị quy là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống! Là một đại biểu Quốc hội, Tổng Bí thư phải trả lời với Quốc hội và với cử tri về kết luận hồ đồ nói trên. Ít nhất, Tổng Bí thư cần giải thích rõ những ý kiến mà Tổng Bí thư dẫn ra, vì sao gọi đó là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Là nhà lý luận, lại từng là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, Tổng Bí thư cần giải thích rõ nội hàm của khái niệm đạo đức, lối sống và tư tưởng chính trị để từ đó mà nói rõ những “kiến nghị…” dẫn ra ở trên là suy thoái đạo đức, lối sống,suy thoái về tư tưởng chính trị như thế nào? Một nhà lý luận sao lại có thể giải thích tùy tiện và hồ đồ rằng : “Người ta đang có những quan điểm đấy. Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa!“. Vậy thì đã thừa nhận người ta nêu lên “quan điểm” thì cần phải tranh luận để làm sáng tỏ đúng sai, sao lại quy kết đó là “suy thoái” và đòi phải “ xử lý“? Sẽ không đúng lúc nếu lại đưa ra tất cả những điều mà Tổng Bí thư cho đó là suy thoái về tư tưởng, đạo đưc, lối sống, xin chỉ đề cập đến mấy vấn đề sau đây:
Ở đâu thì tôi không rõ, chứ trong 7 điểm nêu trong Kiến nghi về sửa đổi Hiến pháp 1992, thì kiến nghị bỏ Điều 4 của Hiến pháp không đồng nghĩa với “phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng” theo cách hiểu của Tổng Bí thư. Xin nhắc lại nguyên văn nội dung của kiến nghị đó trong văn bản đã được trao cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 :” … Chính vì vậy chúng tôi đề nghị bỏ Điều 4 của Dự thảo. Việc tiếp thu đề nghị này tạo cơ hội cho Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lại niềm tin đã từng có trong dân để thực sự trở thành lực lượng lãnh đạo chính trị được xã hội chấp nhận“.
Một vấn đề nữa được Tổng Bí thư nêu lên: “Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả?” và quy kết đó là “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” thì lại càng hồ đồ hơn nữa. Xin nhắc lại rằng, đây là quan điểm chúng tôi đã nêu hơn mười năm trước trong nhiều Hội thảo Khoa học do các cơ quan Nhà nước tổ chức và đã đăng công khai trên nhiều tờ báo.
Xin chỉ dẫn ra một ví dụ ; trong bài “Nhà nước pháp quyền và Xã hội dân sự” đăng trên báo “Người Đại biểu Nhân dân“, tiếng nói của Quốc Hội và Hội đồng Nhân dân,  ngày 26.5.2006 và bài Hành trình từ “chuyên chính vô sản” đến “Làm chủ tập thể” và “Nhà nước pháp quyền cũng đăng trên “Người Đại biểu Nhân dân” ngày 10.6.2013, tôi đã trình bày về vấn đề “tam quyền phân lập” như sau :
Vấn đề cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là pháp quyền ở trên nhà nước. Theo nguyên lý của tư tưởng pháp quyền đó, nhà nước phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”. Mục đích của sự phân quyền đó là trong cơ cấu quyền lực phải có sự kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau nhằm tránh sự độc quyền, lạm quyền. Nhà nước và công chức chỉ được làm những điều luật pháp cho phép, còn dân thì được làm tất cả những điều mà luật pháp không cấm, thể hiện rõ nguyên lý quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân có quyền tham gia vào việc hoạch đinh pháp luật, giám sát và kiểm soát hoạt động và nhân sự của bộ máy nhà nước. Đây là điểm quy chiếu để xác lập sự khác biệt giữa nhà nước pháp quyền và nhà nước không pháp quyền…Ở các kiểu loại nhà nước không pháp quyền thì quyền lực được tập trung vào độc quyền cá nhân [nhà vua] hay một nhóm người định đoạt mọi vấn đề của đất nước. Sự chuyển giao quyền lực giữa các chủ thể quyền lực là cơ chế nối truyền [gia đình, dòng tộc, các nhóm quyền lực cùng chung lợi ích, nhân dân đứng ngoài tiến trình này, hoặc chỉ là vật trang sức để lừa mị mà thôi".
Vậy thì dựa vào cơ sở nào để quy kết rằng nói đến "tam quyền phân lập" là " suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống" xin Tổng Bí thư chỉ rõ ra đặng chúng tôi nâng cao nhận thức. Cũng xin nói thêm rằng, hai bài báo nói trên lại nằm trong cụm bài trong mục "Đàm luận sáng thứ hai" của tôi đã được tặng thưởng báo chí về Đề tài Quốc hội và Hội đồng Nhân dân năm 2006. Ban tổ chức đã động viên tôi bay ra Hà Nội nhận giải thưởng bằng việc cho biết là Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng sẽ là người đứng ra trao giải thưởng đó. Tôi đã gửi thư cám ơn và in lỗi đã không ra Hà Nội được, và bức thư đó đăng trên báo. [Xin nói thêm là tiếp năm sau, tôi lại được tặng thưởng lần thứ hai giải báo chí về Đề tài Quốc hội và Hội đồng Nhân dân năm 2007 cùng với hai tác giả khác là ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội và hòa thượng Thích Chơn Thiện, đại biểu Quốc hội] ! Vậy mà nay tôi lại bị Tổng Bí thư quy kết là “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống” vì đã có tư tưởng về “tam quyền phân lập” thì xem ra tôi khó mà tiếp thu sự khiển trách của Tổng Bí thư về sự “suy thoái” của mình.
Đành tự an ủi với quan điểm tôi đã viết trong bức thư nói trên [đăng trên báo Người Đại biểu Nhân dân ngày 31.12.2006 với đầu đề do Tòa soạn đặt : "Dùng ngòi bút của mình chiến đấu cho lý tưởng cao cả".  Quan điểm đó là : "Nhằm giữ cho ngòi bút của mình không thẹn với chính mình, phải có sự lao tâm khổ tứ để chọn ý, chọn lời, chọn cách diễn đạt để sao cho những cá nhân nào đó khỏi động lòng, khiến họ có thể dùng thói độc quyền chân lý, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết, gây khó khăn cho tờ báo đã đăng bài của mình...Nhưng rồi nghề nào cũng có nghiệp ấy, "đã mang lấy nghiệp vào thân" thì cũng phải bằng mọi cách mà đi cho trọn con đường đã chọn...tôi sẽ tiếp tục chiến đấu bằng ngòi bút trung thực của chính mình...!".
Vả chăng, thưa anh Nguyễn Phú Trọng, tôi chỉ là hạt cát nhỏ nhoi trong biển cả nhân dân, sự bị xúc phạm của tôi chưa là gì so với điều mà anh đã xúc phạm đến nhân dân, trong đó có những bậc lão thành cách mạng đáng kính, những trí thức tâm huyết, những người từng giữ trọng trách, nay tuy đã về hưu, tuy tuổi cao sức yếu, vẫn cố gắng tham gia soạn thảo và ký vào Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992.
Họ làm điều ấy với lòng mong mỏi đóng góp vào việc soạn thảo một Hiến pháp ngang tầm với đòi hỏi của thời đại, đáp ứng được khát vọng của cả dân tộc muốn hội nhập vào quỹ đạo phát triển của thế giới trong bối cảnh của nền văn minh mới thế kỷ XXI. Trong số đó, có người từng được Anh mời đến góp ý kiến với Hội đồng lý luận Trung ương, mà nếu tôi nhớ không nhầm, thì rất nhiều lần Anh tỏ ý kính phục và trân trọng trí tuệ và tâm huyết của những đóng góp ấy với tư cách là Chủ tịch Hội đồng lý luận TƯ. Những người như vậy mà Anh dám quy cho họ là "suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống" sao?
Anh Trọng ạ, nếu thật sự muốn chỉ ra sự suy thoái ấy thì phải tìm vào trong những kẻ vong ân bội nghĩa với đồng bào, đồng chí từng ngã xuống trong cuộc chiến tranh biên giới cách đây 34 năm! Vong ân bội nghĩa bằng sự câm lặng trong ngày 17 tháng 2 để khỏi phải phạm vào "điều cam kết" với những kẻ đã từng xua hơn nửa triệu quân xâm lược tràn vào các tỉnh biên giới năm 1979, tàn sát dân lành, tiêu hủy nhà cửa, đốt phá làng mạc, kể cả việc đặt bom phá khu di tích Păc bó. Vì vậy, nói về "suy thoái tư tưởng chính trị" thì không thể chỉ quy chiếu vào sự trung thành hay không trung thành với một hệ tư tưởng được áp đặt, khi mà thực tiễn đã chứng minh những giáo điều từng được học thuộc lòng về hệ tư tưởng ấy đã gây tai họa cho sự nghiệp của đất nước ghê gớm như thế nào. Thì chẳng phải "Đổi Mới" được xem là một cột mốc trong đời sống của dân tộc ta vì nó đã đưa đất nước vượt qua thảm họa của sự sụp đổ những năm 80 do sự áp đặt mô hình được xây nên bằng những giáo điều tai hại đó sao!
Cho nên, trung thành vơi truyền thống không có nghĩa là quay về những thế kỷ đã lụi tàn để ngắm một dãy dài những bóng ma, mà trái lại phải đem hết sức mình tiến về phía trước, như dòng sông chỉ có  chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó. Còn nói về tư tưởng chính trị của Đảng thì có lẽ nên tham khảo cách định nghĩa về "đảng chính trị" của Đại Bách khoa Toàn thư Pháp :" Nhìn chung, một đảng chính trị có thể được định nghĩa như thể là một tập thể xã hội tìm kiếm sự ủng hộ của nhân dân nhằm trực tiếp thực thi quyền lực, và tập thể này được tổ chức theo thời gian và không gian sao cho nó có thể vượt qua được ảnh hưởng cá nhân của người lãnh đạo. Định nghĩa này vận dụng ba yếu tố: nền tảng của đảng, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của nó mà người ta xem xét trước khi xem xét những đảng được định nghĩa như vậy đã hình thành trong lịch sử như thế nào".
Ấy vậy mà, đã từ lâu, ở ta, thường quen dùng và thích dùng khái niệm "Đảng ta", xem đấy như là một lời phong tặng về uy tín của Đảng trong lòng dân, biến khái niệm đảng chính trị thành một thứ "bái vật giáo", mà quên mất rằng, khi là đảng cầm quyền, thì cũng như mọi thực thể quyền lực khác, đều không tránh khỏi sự tha hóa. Biểu hiện rõ nhất của sự tha hóa ấy chính là sự suy thoái về tư tưởng chính trị : ngày càng xa dân, cưỡi lên đầu lên cổ dân do cơ chế toàn trị, không muốn và không dám tiếp nhận sự phản biện xã hội [vì không có tự do tư tưởng, không có tự do báo chí, không cho phép quyền tư do lập hội...]. Và sự tha hóa ấy bộc lộ rõ quy luật đã được lịch sử đúc kết “quyền lực có xu hướng tham nhũng, quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối“! Câu chuyện về “một bộ phận không nhỏ” thoái hóa biến chất cứ ngày càng to dần lên, càng chống càng phình to ra như một căn bệnh ung thư đã di căn vô phương cứu chữa, mới đích thực là sự “suy thoái về tư tưởng chính trị” gắn liền với “suy thoái về đạo đức lối sống” đáng sợ nhất.
Thưa anh Nguyễn Phú Trọng.
Sự suy thoái mà Anh vừa nói, trước hết được biểu hiện quá rõ mà “triệu con mắt đều nhìn vào, triệu ngón tay đều chỉ vào” trong ngày 17.2. 2013 vừa rồi : Đó là sự quay lưng lại với đồng chí, đồng bào đã chết dưới họng súng của quân Trung Quốc xâm lược. Máu của hàng vạn đồng bào và chiến sĩ ta đã thấm đẫm giải đất biên cương. Máu người đâu phải là nước lã, ấy vậy mà để giữ “cam kết” với thế lực hiếu chiến Bắc Kinh, người ta đã chỉ đạo quán xuyến từ trên xuống dưới không có một nén hương, một vòng hoa tưởng niệm? Cần phải nói thêm rằng, thế lực hiếu chiến mà ai đó đã “cam kết” lại đã ngang nhiên tổ chức rầm rộ lễ kỷ niệm về ngày 17.2, ngày chúng mở cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng lại rao rêu khắp cả nước, đưa cả vào sách giáo khoa dạy trẻ em Trung Quốc, rằng đó là cuộc chiến tranh tự vệ nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học”! Thế lực hiếu chiến mà ai đó “cam kết” lại đang dung dưỡng cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan, công nhiên đưa lên bảng hiệu trong cửa hàng Beijing Snacks tại Bắc Kinh dòng chữ ngạo ngược :” không phục vụ người Việt Nam, Philippines, Nhật Bản và chó!”.
Vậy thì ai đã đưa ra lời “cam kết” với bọn xâm lược là “không nhắc lại quá khứ” để tuyệt đối câm lặng trong ngày 17.2 vừa rôi?  Ai đã làm chuyện xấu hổ và dại dột ấy? Ai? Xin Tổng Bí thư chỉ ra.
Thực hiện sự “cam kết” đó, cùng với hương tàn khói lạnh trên các nghĩa trang liệt sĩ trong ngày 17.2, là sự câm lặng trên toàn bộ báo chí chính thống và hệ thống truyền thông theo một cây gậy chì huy thống nhất, là sự ngăn chặn, cản trở, đe dọa bắt bớ và trấn áp những ai đã dâng hương hoa tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược ở biên giới phía Bắc, biên giới phía Tây Nam, ở Hoàng Sa năm 1974 và ở trận Gạc Ma, Trường Sa năm 1988. Còn sự suy thoái tư tưởng nào bằng sự vong ân bội nghĩa ấy thưa anh Nguyễn Phú Trọng. Có sự sa đọa về đạo đức và lối sống nào bằng sự vong ân bội nghĩa ấy thưa Tổng Bí thư?
 Mặt khác, nếu muốn rao giảng về đạo đức thì chính là đạo đức đích thực khi dám vượt qua mọi sự đe dọa, trù dập, trấn áp cho đến những thủ đoạn thấp hèn quen thuộc là đuổi việc, đuổi học, vẫn quyết theo tiếng gọi của lương tâm, phạm trù cơ bản nhất của đạo đức, quyết dâng vòng hoa tưởng niệm tại Đài Liệt sĩ trên đường Bắc Sơn, thắp nén hương tại tượng Quang Trung nơi Gò Đống Đa, giương cao vòng hoa trắng quyết không cho những bọn vô sỉ giành giật và bóc xé dòng chữ tưởng niệm tại tượng đài Cảm Tử bên hồ Hoàn Kiếm, vượt qua mọi sự rình mò và soi mói để trang trọng dâng hoa và những dòng chữ tưởng niệm nhân ngày 17.2.2013 dưới chân tượng Đức Thánh Trần gần bến Bạch Đằng, quận I, thành phô Hồ Chí Minh. Chính là đạo đức, khi trong mỗi ngôi nhà, không phân biệt là nhà cao tầng, biệt thự hay nhà tranh vách đất, người ta thành tâm thắp một nén hương, bày bình hoa trên ban thờ với dòng tưởng niệm những người đã chết trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược nhân ngày 17.2. Cũng chính là đạo đức, khi nêu cao một lối sống không chịu khuất phục, dám ngẩng cao đầu để biểu thị chính kiến của mình như nhà báo trẻ nọ ” làm báo từ năm 2006 đến giờ. Tôi nhận thức được hệ quả sẽ đến với tôi.” Biết rõ như vậy, nhưng nhà báo ấy vẫn nói lên tiếng nói trung thực của chính mình, “hoàn toàn do mệnh lệnh đạo đức của tôi ” như anh khẳng định.
Thưa anh Nguyễn Phú Trọng,
Liệu sau khi nhỡ lời, anh có thấy hối tiếc vì mình đã xúc phạm đến những người được nhân dân kính trọng, vị tướng lão thành từng là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Trung Quốc, năm nay đã 97 tuổi, đã suy nghĩ, nghiền ngẫm từng chữ từng lời, thêm bớt, bổ sung trước khi ký vào Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992, và ngày 17.2 vừa qua đã cùng với một số người đáng kính khác ký vào Kiến nghị ấy đã mang hoa đến tưởng niệm các liệt sĩ ngã xuống vì sự tồn vong của Tổ quốc? Nếu có, thì Anh nên xin lỗi họ, cũng tức là xin lỗi nhân dân. Chuyện nhất thời có sự hồ đồ thiếu tỉnh táo cũng là chuyện thường tình, cho nên xin lỗi là một cử chỉ văn minh trong lối sống của người có hiểu biết và có đạo đức. Người có “tư tưởng chính trị” vững vàng chính là người có bản lĩnh dám nhận sai lầm.
Vả chăng, hơn lúc nào hết, khi con thuyền của đất nước đang chao đảo, là người giữ trọng trách lèo lái thì biết thu phục nhân tâm, trân trọng hiền tài phải là cái đức của người biết mình, biết người. Trót hồ đồ, nói thiếu cân nhắc, xúc phạm những người đáng lý phải trân trọng, gây phẫn nộ trong công luận, thì việc lắng nghe để bình tĩnh nhận ra chân lý, có ứng xử thích hợp, luôn là điều đáng làm.
Đến một vị vua từng nằm gai nếm mật, mười năm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống giặc Minh, lên ngôi đại định, mở đầu cho một triều đại vẻ vang thế kỷ XV, vua Lê Thái Tổ vẫn một lòng khiêm nhường kính cẩn : “Nay trẫm gánh vác trách nhiệm nặng nề, sớm khuya kính cẩn lo sợ, như đi trên băng mỏng, như đứng bờ vực thẳm chỉ vì chưa kiếm được hiền tài giúp đỡ việc trị nước…”. Còn vua Lê Thánh Tông, gặp khi có thiên tai đã chỉ dụ rằng “Bởi chính trị có thiếu sót, nên trời chỉ cho bằng tai biến. Đó là do lỗi lầm của trẫm mà chuốc lấy họa chứ trăm họ có tội gì đâu? Có phải vì trẫm đức tin chưa đến dân, lòng thành chưa thấu tới trời mà đến nỗi như thế chăng?”.  Cũng trên cái mạch tư duy ấy, vua Minh Mạng thế kỷ XIX khi nghe tâu về vỡ đê, dân tình cơ cực đã xót xa tự vấn :” Nghĩ tấm thân lạm ở trên trăm họ, không biết tu đức để trời cho hòa khí, đến nỗi dân ta bị tai họa ấy, thực là một điều lỗi lầm của ta“! Thì ra, cha ông ta xưa đã không mắc phải điều mà ngày nay đã trở thành ca dao hiện đại : “mất mùa bởi tại thiên tai, được mùa bởi tại thiên tài đảng ta“!
Gợi lên vài dòng lịch sử chi nhằm nói thêm với người gánh vác trọng trách quốc gia rằng : phải biết “kính cẩn, lo sợ, như đi trên băng mỏng, như đứng bên bờ vực” chứ không thể tùy tiện phán bảo và quen thói bịt miệng dân, chỉ muốn dân cúi đầu tuân phục “chỉ thị, nghị quyết”, cho dù thực tiễn cho thấy có quá nhiều chỉ thị nghị quyết sai lầm gây bao tai họa cho dân. Và rồi, cái cách lớn tiếng đe dọa “lợi dụng việc góp ý kiến vào Hiến pháp để phá hoại đường lối chính sách, làm mất uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng” của một vài người có trọng trách trên báo chí và trên tivi mấy ngày qua đã không hù dọa được ai! Trái lại, chỉ làm cho lòng dân thêm phẫn nộ. Điều này mong Tổng Bí thư cần lưu ý.
Đối với riêng tôi, khi tham gia soạn thảo và ký vào Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992 mà Tổng Bí thư đã phê phán nặng lời, tôi chỉ muốn nói rằng, tôi đã thực hiện lời chỉ dẫn của Các Mác “ trí thức là người nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu. Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc trước xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào.
Cho nên dù bị quy kết thế nào đi chăng nữa, tôi cũng thấy là chẳng có gì đáng bận tâm. Bởi lẽ, là người am hiểu và tôn trọng phép biện chứng, chắc Tổng Bí thư nhớ nằm lòng ý tưởng của Hégel được Ph. Angghen dẫn ra để nói về biện chứng của sự phát triển : mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá”.
Người am hiểu về biện chứng như Tổng Bí thư chắc sẽ bình tâm suy nghĩ về “những bước tiến mới” mà đời sống đất nước đang chứng kiến, để với cương vị của mình, thúc đẩy cho những ý tưởng mới phát triển nhằm đẩy lùi trạng thái cũ đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hóa. Làm được như vậy thì dấu ấn để lại trong lòng người và cho lịch sử sẽ không là sự cáo chung của lực lượng bảo thủ cố duy trì cái cơ chế đã đưa đất nước vào ngõ cụt, mà là người đem lại sự canh tân, thuận với quy luật phát triển, đáp ứng được lòng dân.
Kính gửi Tổng Bí thư lời chào trân trọng.
 TP Hồ Chí Minh ngày 28.2.2013
Tương Lai
Theo Ba Sàm

Sự kiện 1979 và giới hạn của im lặng


Lịch sử có chức năng là “người thầy” của cuộc sống. Chính lịch sử dạy cho hiện tại những sai lầm cần tránh khỏi, sự tỉnh táo trước những gì tương tự đã từng xẩy ra.
Buổi lên lớp đầu tiên của tôi trong năm Quý Tỵ là chiều thứ Hai, hai tiết học cuối của buổi chiều ngày 18/2 – mồng 9 Tết mới đây, tại ĐH Khoa học Huế! Tôi dạy bài “Lịch sử Trung Quốc” cho sinh viên lớp Hán Nôm K36.
Sau mấy câu chào làm quen, tôi hỏi: ” Hôm qua, 17/2, đó là ngày gì?” Một nữ sinh là ni cô nói: “Một ngày bình thường như mọi ngày”. Sinh viên tiếp theo là một sadi (sư bác): “Chắc là ngày… sinh nhật của thầy phải không ạ?”…(!)
100% không biết!
Có một cái gì đó nghẹn tắc trong nhịp thở khó nhọc của tôi. Khi 100% sinh viên năm thứ nhất đang ngồi trước mặt mình, chỉ biết được về một ngày lịch sử không thể quên đó, là sau khi tôi nói, đó là ngày cách đây 34 năm, Trung Quốc nổ súng trên bầu trời biên giới.
Thấy nét mặt của tôi không vui, một sinh viên rụt rè: “Chúng em có lỗi”. Tôi nói, các em đợi một chút và, tôi gửi đi một lời tâm sự lên mạng, nói về điều vừa xảy ra, lúc đó là 15h15 phút! Gửi xong, tôi đưa cho mấy sinh viên đọc dòng thông tin “HVT đã nói” và, nói tiếp: Các em chỉ có lỗi một phần, lỗi trầm trọng là ở “người lớn” chúng tôi. Lịch sử dân tộc dường như  đã bị rơi vào quên lãng.
Có lẽ cái não nề của cơ sự “không biết, không nhớ” gì về một giai đoạn đau thương, quật cường chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam của những sinh viên năm thứ nhất không phải là ngoại lệ!
Nhưng, chắc chắn rằng sự kiện mà tôi vừa nêu trên là chuyện không hề nhỏ một chút nào. Nó không chỉ là một nỗi đau mà là sự nhức nhối thật sự, nếu suy rộng, nó còn là một đòn “đánh” vào tất cả các nhà sử học: Lịch sử sẽ là gì nếu mỗi chúng ta không hề dám nói thật về… sự thật?
“Lãng quên” là  có tội!
Trong một buổi gặp mặt cử tri gần đây, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh rằng: Chúng ta có “cái bệnh” rất lớn là không dám nói lên sự thật (SGGP, 13/2). Lời cảnh tỉnh (xác nhận) đó cũng là lần đầu tiên được chính thức phát đi từ người đứng đầu Nhà nước kể từ gần 70 năm nay(!). Tất nhiên, Chủ tịch nước đề cập đến nhiều vấn đề và, dĩ nhiên, trong đó có sử học.
Khi tôi là sinh viên, được dạy rằng có những sự thật lịch sử chưa nên nói vì chưa có lợi cho cách mạng. Đó là năm 1974. Ai cũng dễ dàng đồng ý rằng trong chiến tranh, quả thật rất cần những khoảnh khắc, những “chương, hồi của sự im lặng” về sự thật, vì sợ bị kẻ thù lợi dụng, lòng dân ly tán…
Thế nhưng, cái tai họa của vấn đề là ở chỗ: Giới hạn của sự im lặng (chưa công bố, chưa nói) nằm ở tầng mức nào, bao lâu hay đến bao giờ? Sự mập mờ, đa nghĩa của cụm từ “có lợi cho cách mạng” đã bị biến hóa, như sự kiện 17/2/1979! Trong khi đó, luật pháp ở nhiều nước quy định việc giải mã toàn bộ bí mật lịch sử chỉ khoảng trên dưới 30 năm.
Một trong những định đề nổi tiếng của Karl Marx là ông phê phán các sử gia tư sản luôn coi 30 năm lịch sử vừa mới diễn ra là chính trị. Vì có nhiều bí mật chưa tỏ tường hóa, nên họ dùng cụm từ ‘hậu hiện đại’ hoặc ‘sau hiện đại’ (post modern, after modern) để chỉ quãng thời gian tranh tối, tranh sáng ấy. Theo Marx, lịch sử là tất cả những gì vừa xảy ra, kể cả khoảnh khắc vừa mới trôi qua.
Điều tiếp theo cần phải bàn là tại sao chúng ta không dám đưa sự thật lịch sử vào sách giáo khoa? Nói rằng sự thật đó có thể làm tổn hại đến tình hữu nghị hay bang giao quốc tế là không hề thuyết phục.
Chẳng lẽ người Mỹ dựng phim, mở hội thảo về tội ác của chủ nghĩa fascio lại làm mất đi quan hệ hữu hảo Đức – Mỹ sao? Không ai có thể thay đổi lịch sử đồng nghĩa với mặc định hiển nhiên rằng chấp nhận nó như là một phần của quá khứ, dẫu vinh quang, niềm vui hay cay đắng.
Một cựu chiến binh ở biên giới phía Bắc năm 1984 – hiện là giảng viên lịch sử kể rằng, năm 1992, cơ quan anh có tổ chức gặp mặt cựu chiến binh từ 1945-1975; có nghĩa là những ai đã từng là cựu chiến binh sau năm 1975 không được mời dự(!). Sự thật đó thật là cay đắng nhưng vẫn chưa thể đắng cay bằng việc chúng ta lãng quên sự hy sinh dũng cảm của hàng vạn con người đã ngã xuống cho dân tộc trường tồn.
Giữ gìn bản sắc văn hóa Việt như thế nào?
Chúng ta thường khẳng định việc phải giữ gìn bản sắc của văn hóa Việt Nam. Thử hỏi rằng, bản sắc dân tộc Việt là gì nếu không phải phần lớn nhất, độc đáo nhất, phi thường nhất, chính là truyền thống không thể bị đồng hóa, truyền thống quật cường bất khuất của Tổ quốc hình chữ S?
Nói như thế có nghĩa là, không một ai có quyền lãng quên lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Cố tình quên hay nói khác về “sự nhớ” nửa vời là có tội với tiên tổ, giống nòi.
Lịch sử có chức năng là “người thầy” của cuộc sống. Chính lịch sử dạy cho hiện tại những sai lầm cần tránh khỏi, sự tỉnh táo trước những gì tương tự đã từng xẩy ra, bởi lịch sử không lặp lại nhưng, có thể, bắt chước chính nó. Tại sao lại không nên khi cả VN và TQ đều rút ra được những bài học cần thiết để tránh việc lặp lại những sai lầm?
Nếu cứ coi quá khứ không thể thay đổi sẽ làm tổn hại hiện tại, tại sao lại có nhiều như thế những đường phố Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Trần Hưng Đạo, Quang Trung…?
Trong cuộc đời, đôi khi có những câu trả lời cho những vấn đề được coi là phức tạp thật giản dị: Nếu chưa đưa sự kiện 17/2/1979 vào SGK thì bao giờ sẽ đưa vào? Nhất định phải đưa vào bởi nói thật về sự thật phải là bản chất của lịch sử. Sự trù trừ, “tiếng kèn ngập ngừng” của cách nói chỉ làm cho lịch sử thêm rối rắm, nhiêu khê. Không thể tiếp tục nỗi đau rằng đã và đang có hàng triệu con người trẻ tuổi chẳng biết gì lịch sử anh dũng của cha ông.
Ngày 6 và 9/8/1945, người Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagazaki, làm chết cả triệu người. Đến năm 1951, Hiệp ước An ninh Mỹ – Nhật vẫn được ký kết và, dù 62 năm đã trôi qua, quan hệ đồng minh giữa hai nước vẫn là “hòn đá tảng” (nguyên văn, key stone)…
Chỉ có những cái đầu thiển cận mới cho rằng quá khứ lịch sử làm tổn hại đến quan hệ hiện tại. Với những cái đầu như thế, việc né tránh quá khứ chỉ càng làm cho hiện tại phức tạp, đớn đau hơn…
Theo TVN

Thứ Năm, ngày 28 tháng 2 năm 2013

Ép Đảng tự khỏa thân


Cách nay vài tuần, sau khi đọc “Hiến pháp, những ‘trò khỉ’ và chuyện góp ý hay không”, một người bạn vong niên của mình dự đoán: Nếu số người ủng hộ “Kiến nghị 72” vượt qua mức 50.000, Đảng sẽ “tự khỏa thân”.
Mình thưa, mình cũng tin Đảng sẽ “tự khỏa thân” nhưng với những gì mình đã biết về Đảng, mình tin chỉ cần 20.000 cá nhân tuyên bố ủng hộ “Kiến nghị 72” là đủ để Đảng tự nhảy lên sàn, biểu diễn “thoát y vũ” rồi.
Hóa ra cả mình lẫn bạn mình đều sai!
Tuần này, khi số người tuyên bố ủng hộ “Kiến nghị 72” chỉ mới tròm trèm 6.000, thời gian thu thập ý kiến đóng góp cho việc sửa đổi Hiến pháp vẫn còn tới một tháng nhưng cả bác Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư, lẫn bác Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch Quốc hội đã toan “lột” nốt cái “quần đùi”.
1.
Mình đoán, lúc tính tới trò “sửa đổi Hiến pháp”, Đảng vẫn nghĩ qua trò đó, Đảng có thể vớt vát được một chút niềm tin, qươ quào được một chút uy tín để mua thêm thời gian, tìm cơ hội xoay chuyển hiện tình chính trị vốn đang càng ngày càng tồi tệ, nguy hiểm cho Đảng.
Đảng không nghĩ như vậy thì không có chuyện cuối năm ngoái, riêng trong ngày 28 tháng 12, bác Nguyễn Phú Trọng – lấy tư cách Tổng Bí thư – ban hành Chỉ thị 22 CT/TW, còn bác Nguyễn Sinh Hùng – nhân danh Quốc hội – ký Nghị quyết 38/2012/QH13, cùng yêu cầu tổ chức lấy ý kiến đóng góp cho việc “sửa đổi Hiến pháp” trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, kể cả ý kiến của người Việt định cư ở nước ngoài.
Chỉ thị 22 CT/TW do bác Trọng ký khẳng định, việc góp ý “sửa đổi Hiến pháp” là “nhằm phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân, của các cấp các ngành, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân và cơ quan, tổ chức đối với việc sửa đổi Hiến pháp, thi hành pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân”.
Tương tự, Nghị quyết 38/2012/QH13 do bác Hùng ký nhấn mạnh, việc góp ý “sửa đổi Hiến pháp” là “nhằm huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân
Một ngày sau khi hai văn bản vừa dẫn được ban hành, bác Phan Trung Lý Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, kiêm Trưởng Ban Biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, tuyên bố thêm, nhân dân có thể góp ý về tất cả các nội dung trong Dự thảo Hiến pháp, kể cả “Điều 4”, không có gì là cấm kỵ…
Mình tin, lúc soạn kịch bản và khởi diễn, Đảng hoàn toàn không dè “dưới sự lãnh đạo vẻ vang của Đảng” lại có thể có tình huống kiểu như “Kiến nghị 72”. Đảng cũng hoàn toàn không dè “dưới sự lãnh đạo vẻ vang của Đảng”, tất cả những kẻ lên tiếng bảo vệ quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng trong đợt góp ý “sửa đổi Hiến pháp” lần này lại trở thành “bia”, bị thiên hạ “bắn”, đành “ngậm tăm”, lãnh búa rìu dư luận.
Chính vì không dè nên bác Nguyễn Phú Trọng mới hoảng, bác Nguyễn Sinh Hùng mới hãi.
Cuối cùng, cũng giống như hồi cuối tháng 12 năm ngoái, những ngày cuối tháng 2 này, bác Trọng quyết định ngưng “diễn”, “xé” Chỉ thị 22 CT/TW bằng nhận định, những góp ý “sửa đổi Hiến pháp” là “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức”. Bác Hùng “vò” Nghị quyết 38/2012/QH13 bằng tuyên bố, việc góp ý “sửa đổi Hiến pháp” là lợi dụng để “tuyên truyền, vận động nhân dân chống lại đảng, chống lại chính quyền… phải kiên quyết đấu tranh và ngăn chặn”.
2.
Khác với một số người, mình không tin chuyện tổ chức cho nhân dân góp ý “sửa đổi Hiến pháp” là một kiểu “khiêu khích chính trị”, nhằm tìm – trị tất cả những người không chấp nhận sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng.
Mặt khác, tuy chuyện Đảng tổ chức cho nhân dân góp ý “sửa đổi Hiến pháp” có đầy đủ dấu hiệu của một “trò khỉ” nhưng khác với nhiều người, mình không tin việc tuyên bố ủng hộ “Kiến nghị 72” là vô ích. Chuyện bác Trọng “xé” Chỉ thị 22 CT/TW, bác Hùng “vò” Nghị quyết 38/2012/QH13 trước thời hạn, cho thấy giá trị của “Kiến nghị 72”.
Mình tin, tâm tư của công chúng về hiện tình chính trị – kinh tế – xã hội, khát vọng thay đổi của họ,… khiến các bác lãnh đạo Đảng dao động. Các bác ấy chợt nhận ra rằng, mọi thứ đang vuột khỏi tầm tay của các bác ấy, nếu không lên tiếng răn đe ngay thì điều các bác ấy sợ nhất có thể thành hiện thực. Lượng người tuyên bố ủng hộ “Kiến nghị 72” có thể sẽ là 6 con số, 7 con số,… Thành ra các bác ấy đành chấp nhận tự thóa mạ chính mình. Tuy màn chưa khép, vở diễn đang dang dở nhưng vẫn muối mặt liếm lại những thứ đã… nhổ ra.
3.
Hôm nay, mình vừa viết vào sổ tay: 28 tháng 2 năm 2013, “dưới sự lãnh đạo vẻ vang của Đảng”, chỉ 6.000 người mà có thể ép Đảng “tự khỏa thân”. Nếu con số này tăng thêm tôi hy vọng có thể thay sổ mới.
28/02/2013
Đồng Phụng Việt