Thứ Bảy, ngày 09 tháng 3 năm 2013

Dân chủ mở rộng hơn

Thông báo: Trang điểm tin Ba Sàm từ 9:20 sáng ngày 8/3/2013 bị hacker phá, hiện đang trong giai đoạn khắc phục. Mời các bạn xem tạm tại đây!
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vừa có công thư thông báo sẽ tiếp tục nhận các ý kiến góp ý cho dự thảo Hiến pháp sửa đổi, hạn cuối là 30-9-2013.
Như vậy theo kế hoạch cũ, thời hạn góp ý cho bộ luật “mẹ” này sẽ được “nới” thêm sáu tháng nữa. Trong khi đó thì 54 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 17 bộ, cơ quan ngang bộ hiện đã gửi báo cáo về tình hình tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp theo chủ trương chung…
Không cần phải có nhiều dẫn chứng, nguyên những con số nói trên đủ thấy đợt góp ý Hiến pháp sửa đổi này đã thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân như thế nào. Thực sự đợt góp ý này đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sôi nổi, từ anh bảo vệ cơ quan đến các cụ lão thành đều hăng hái nêu ý kiến về các vấn đề trọng đại của đất nước đang được ghi nhận ở bản Hiến pháp sửa đổi.
Chính vì thế mới thấy, việc trưng cầu ý dân cho bộ luật “mẹ” này không thể đơn giản, không thể vội vã, càng không thể áp đặt ý chí lên nguyện vọng của đông đảo nhân dân. Thực tế cho thấy, một khi người dân còn tâm huyết, trách nhiệm và khao khát sự đổi mới cho đất nước thì họ còn góp ý, và dĩ nhiên tất tần tật những gì ghi trong Hiến pháp thì đều liên quan đến quốc kế dân sinh nên phải được góp ý thấu đáo.
Thêm nữa, Hiến pháp là của dân, do dân và vì dân nên việc góp ý không những là quyền mà còn là nhiệm vụ của mỗi người dân. Trên các con phố lớn chúng ta thường giăng khẩu hiệu “Sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” với ngụ ý nhắn nhủ mỗi người hãy tự giác tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Vậy thì bản Hiến pháp này nếu mỗi người dân không được tham gia góp ý, xây dựng đúng theo nguyện vọng của họ thì làm sao đảm bảo rằng sau này họ sẽ tự giác tuân theo?!
Do đó, việc kéo dài thêm thời gian nhận ý kiến đóng góp của người dân, dù có thể có thêm tý phiền phức (như sau kỳ họp Quốc hội vào tháng 5-2013 dự thảo có thể thay đổi nên có thể phải xin ý kiến lại đối với những người đã góp ý), sẽ đảm bảo rằng bản Hiến pháp mới sẽ nhận được thêm nhiều ý kiến xác đáng thực sự vì sự đổi mới, tiến bộ và phát triển.
Đó cũng là một sự tịnh tiến gần hơn đến dân chủ!
Bút Lông
Theo FB Bút Lông

Trường Sa nhìn gần


Năm 2000, trên tàu Ti Tan của Quân chủng Hải quân tôi được ra Trường Sa. Nửa tháng lênh đênh trên biển, hết đảo này đến đảo khác, từ Trường Sa lớn đến Phan Vinh, Thuyền Chài, Tiên Nữ, An Bang…tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn sự thiêng liêng của hai tiếng Tổ Quốc.
 “Trên quần đảo mang tên bão tố đó, tôi đã gặp những người lính giản dị nhưng rất kiên trung và lạc quan. Họ nói: Chúng tôi ở xa đất liền nhưng Tổ Quốc gần hơn cả. Quê hương, đất nước luôn luôn ở trong trái tim của người chiến sĩ. Bài “Trường Sa nhìn gần”, tôi xem như một ghi chép thơ trong chuyến đi không bao giờ quên ấy“.  Nhà thơ  Nguyễn Hữu Quý
Trường Sa nhìn gần

1.
Ở Trường Sa
những người lính
mặt trẻ
tóc già.
Những chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi
tóc lấm tấm bạc.
Chúng tôi
sống trên đỉnh sóng
neo bám giữa bão giông
nơi
mây – nước – trùng – trùng…
Ngày ngày
đi qua bài thơ Nam quốc sơn hà
khắc bên cột mốc
nghe lòng ngân rung hồn Việt
trên mặt đá san hô nắng khét
chúng tôi
nhận ra gương mặt dòng sông
soi bao mùa màng xứ sở
những sinh nở cánh đồng của mẹ
đêm đêm
rì rào
trong những giấc mơ.
Chẳng có gì thương hơn những giấc mơ về mẹ
người là hôm nay cũng là muôn thuở
dáng tảo tần và nét lo toan
Ở nơi góc bể chân trời
mẹ như ngọn dền xanh, mẹ như bông muống trắng
như bên cửa sổ khẩu đội con có cây ớt chín
dây mồng tơi vấn vít ngoài thềm
mẹ là bài dân ca đêm qua em văn công vừa hát
chúng con vỗ tay hát theo như uống ngọn nguồn…
Mẹ ơi,
con đã được hôn lên đôi mắt quan họ
con đã được cầm tay ví giận thương đi dưới vầng trăng vằng vặc Trường Sa
và con hình dung ra đôi mắt mẹ đang cười
mẹ ôm vào lòng mưa nắng tuổi hai mươi
như Tổ Quốc ôm vào lòng Quần đảo !
2.
Chúng tôi
những người lính
mặt trẻ
tóc già
chung màu da biển cả
nắng Trường Sa ngun ngút lửa trời
dội xuống nơi cằn cộc cỏ cây
Lò – vôi – thế – kỷ.
Biển
ngấm vào chúng tôi vị mặn Ngân hà.
Một lần ra Trường Sa
cả đời nhớ Trường Sa
không quên được
dù chỉ là ca nước
một ngọn bàng vuông nhô lên trong hố đất
một cây dừa tướp lá đảo Phan Vinh
một tiếng gà trưa oi óc An Bang
một truyền thuyết lung linh đêm Tiên Nữ
một đàn chim câu lượn vòng trong chiều Trường Sa lớn
một chiếc trăng cong bên đảo Thuyền Chài…
3.
Có buổi chiều
lính đảo vui như Tết
khi cầm trên tay những lá thư tình
nét chữ nghiêng
tà áo bay bay
nét chữ đứng
dáng ai trên bờ đợi.
Biển dài rộng
đảo chỉ là chấm nhỏ
và con người cũng chẳng thể lớn hơn
nhưng
không có chúng tôi biển cũng sẽ vô hồn
biển sẽ khát giữa mênh mông đơn điệu
xin đọc biển nghe lời em thủ thỉ:
quần đảo phong ba – vùng biển yêu thương
nơi bão tố là nơi bình yên nhất…

Đồng đội ơi,
sao lúc ấy chúng mình không hát
một câu gì đó cho em
để bớt bồi hồi mong nhớ hoàng hôn
dẫu hoàng hôn đang cháy bùng trước mặt
để khỏi bồn chồn chờ vầng trăng mọc
dù vầng trăng đang đội sóng nhô lên.
Chúng tôi
những người lính
mặt trẻ
tóc già
lặng lẽ yêu em
như cây phong ba yêu đảo.
Lính chúng tôi ít lời hoa mỹ
khó thời thượng thời trang
chẳng sành điệu lắm đâu
nếu các em gặp chúng tôi quân phục bạc màu
da đen cháy…cũng đừng buồn đấy nhé
chúng tôi yêu em bằng tình yêu giản dị
bằng trái tim của đảo mà thôi!
Chúng tôi yêu em như yêu Đất Nước còn nghèo
cầu dải yếm bắc qua mùa ngâu khát
cây trúc chọn miền dân ca để mọc
vạt áo nào cũng giai điệu phù sa
câu ca dao không chịu hóa bùn
ngực đồng nội thơm bông sen bông súng
dòng sông dắt lúng liếng qua cầu
người thương nhau thì vượt sóng tìm nhau
như mẹ cha ta từng trèo đèo lội suối
quả cau nhỏ í a môi đỏ thắm
và lá trầu khuất nẻo còn cay
màu cổ tích xanh áo lính bây giờ…
Chúng tôi
những người lính
mặt trẻ
tóc già
con tem nhỏ
dán vào góc biển
biển thành phong thư vĩ đại của đất trời
ngôn ngữ sóng dạt dào vũ trụ
tín hiệu xuyên qua mây mù không mỏi:
TÌNH YÊU!
                                          Nguyễn Hữu Quý

Thư ngỏ của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh gửi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng


Kính gửi: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Tổng Bí thư đã đúng khi trong Nghị quyết Trung ương IV nhìn thẳng vào sự thật, đã nêu “Bộ phận không nhỏ Đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Bộ phận không nhỏ nghĩa là khá nhiều, mà phần lớn là những Đảng viên có chức có quyền, kể cả ở cấp cao, như thế cũng có nghĩa là Đảng cũng suy thoái. Cùng với sự sa sút nghiêm trọng về kinh tế xã hội làm cho đời sống đại đa số nhân dân khó khăn, chật vật, để cho Trung Quốc hoành hành thao túng, Đảng đã tự đánh mất lòng tin vào vai trò lãnh đạo của chính mình. Đâu còn thời kỳ huy hoàng, quang vinh như thời kỳ cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến vì độc lập thống nhất thắng lợi, nhân dân tự nguyện theo sự lãnh đạo của Đảng, Đảng vẫn lãnh đạo được nhân dân mà không có điều nào trong Hiến pháp ghi quyền Đảng được lãnh đạo.
Nhưng Tổng Bí thư đã sai khi phát biểu ở Vĩnh Phúc, đồng thời tự mâu thuẫn với mình. Quốc hội cũng như Tổng Bí thư đều kêu gọi nhân dân góp ý kiến vào sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đã là đông đảo người góp ý kiến, thì ý kiến rất đa dạng, có người tán thành điều này, có người muốn sửa đổi điều kia, có người đồng ý với dự thảo, có người có ý kiến khác với dự thảo, đó là điều bình thường, sao Tổng Bí thư lại chụp cho những người đó là “suy thoái”, lại còn yêu cầu phải “xử lý” (nghĩa là đàn áp hoặc trả thù như đối với Nguyễn Đắc Kiên)? Nếu cho phép góp ý kiến mà chỉ được đồng ý với dự thảo của Ủy ban soạn thảo, thì lấy ý kiến của nhân dân làm gì cho mọi người thấy là “dân chủ hình thức, giả dối”! Còn chỉ đạo “phải xử lý” thì xử lý sao được gần 9.000 người đã ký vào “Kiến nghị 72” trong đó có nhiều nhà khoa học, trí thức có tên tuổi cả trong nước và trên quốc tế, các thương binh đã hy sinh một phần cơ thể cho đất nước, các lão thành cách mạng đã bị tra tấn, tù đày và đã cả đời phục vụ Tổ quốc?!
Nhân đây, tôi nói thêm là tôi đề nghị sửa điều 70 trong dự thảo: “lực lượng vụ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản” thành câu “lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc Việt Nam”, điều đó không phải là “phi chính trị hóa” quân đội. Tôi nghĩ rằng quân đội ta sinh ra chủ yếu là để chống xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam dù là Đảng lãnh đạo, cũng là một bộ phận trong Tổ quốc và trong nhân dân Việt Nam, lực lượng vũ trang bảo vệ được Tổ quốc thì cũng bảo vệ được Đảng Cộng sản, nếu nước mất thì Đảng cũng không còn, cần gì Đảng phải giữ quân đội làm của riêng của mình.
Năm 1944 khi còn ở trong rừng Việt Bắc, Cụ Nguyễn Ái Quốc (lúc ấy nhân dân thường gọi là “Ông Ké”, Cụ chưa lấy tên là Hồ Chí Minh) lập ra “Đội võ trang tuyên truyền giải phóng quân”, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Người không nhân danh Đảng Cộng sản. Và khi đã thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người nói “quân đội trung với nước, hiếu với dân”, sau này phát triển thành câu hoàn chỉnh trong các văn kiện và báo chí là “Quân đội ta từ nhân dân mà ra, trung với nước hiếu với dân, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Tôi đọc Hồ Chí Minh không thấy chỗ nào Người nói là “quân đội trung với Đảng…” như mấy ông phát biểu trên ti vi bịa ra nói bừa và còn nói bừa là “quân đội do Đảng Cộng sản lập ra…” hòng vào hùa giữ cho được câu “lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” ghi trong dự thảo Hiến pháp.

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 3 năm 2013

Bi hài chuyện phản bác ý kiến đóng góp trái chiều

Báo ND ngày 5/3/2013 thực sự đã làm cái gọi là ” cuộc đấu tranh phản bác luận điệu sai trái” trong việc tiếp nhận ý kiếp đóng góp sửa đổi hiến pháp trở thành một trò đầy đủ bi ai, hỷ nộ. Đẩy tính kịch nên thành cao trào khi cho một cựu chiến binh có tên là Vũ Tiến Anh lên báo giở trò khóc lóc ơn nghĩa, tình xưa.
Trái với báo QĐND tung ra những bóng ma thế lực thù địch, cơ hội chính trị, âm mưu luận điệu chống phá, để từ đó gào hét đòi hỏi phải trừng trị, phải cảnh giác, phải này nọ. Trước kia báo QĐND không có mục đấu tranh nội bộ hay bảo vệ tư tưởng, bảo vệ chính trị nội bộ kiểu này. Nhưng từ khi TC2 Bộ Quốc Phòng dịch và phát hành những cuốn sách tài liệu chống diễn biến hoà bình do Trung Quốc xuất bản, báo QĐND có thêm trương mục chống diễn biến hoà bình, và dường như những cây viết quân đội này hăng say với đấu tranh bảo vệ chính trị, tư tưởng nội bộ hơn là quan tâm đến vấn đề khác mà đúng ra đó mới là chuyên môn, nhiệm vụ của họ.
Các cây viết của QĐND tiếp thu và phát lại những gì ngày hôm nay theo một tư tưởng y hệt trong những cuốn sách mà TC2 đã dịch từ sách TQ cách đây ngót gần 20 năm. Một sự sao chép cũ mòn không có gì là khó thấy nếu ai đã xem những luận điệu trong các cuốn sách đó và những bài viết trên báo QĐND ngày hôm nay.
Nếu họ liên tục sao chép lại những lý luận từ bên TQ một cách máy móc như vậy, thì chuyện ngày hôm nay họ viết những bài như vậy không có gì là lạ.
Nhưng cái thật lạ lùng, dường như họ chỉ sao chép những gì bảo thủ, xơ cứng thiên về cao giọng đe doạ của TQ, chứ không sao chép hoàn toàn lý luận, tư tưởng của TQ. Phải chăng đây là cái gọi mỹ miều ” tiếp thu có chọn lọc”.
Xin xem những trang viết dưới đây.

Đây là nhận định tương đối mới của những nhà lý luận tư tưởng Trung Quốc, được công khai ở Trung Quốc trên báo chí,in sách vở. Đồng thời cũng được TTXVN dịch ra làm tài liệu cho các đảng viên tham khảo.
Tôi không tin những người viết trên báo QĐND không đọc tài liệu này, thậm chí họ còn đọc trước cả tôi vì họ có nhiều điều kiện. Nhưng họ đọc rồi và vẫn viết những bài viết như ngày hôm nay thì quả thật bi hài cho nền lý luận Việt Nam. Một nền lý luận khôn vặt chỉ sao chép nguyên xi những gì cần thiết phục vụ lợi ích tức thời bản thân mình. Thậm chí dùng kiểu nhặt nhạnh lựa chọn những lý luận cũ rích của ông thầy TQ thấy chưa xong thì giở bài khóc lóc đánh vào tình cảm. Một người cựu chiến binh, cả gia đình là cựu chiến binh. Đáng phải nhìn nhận dũng cảm vào thực tiễn, như kẻ dám chơi, dám chịu thực cảnh đang diễn ra, thể hiện bản lĩnh của mình.  Đằng này Vũ Tiến Anh được báo ND đẩy lên diễn một màn khóc lóc, lại lôi hình tượng HCM ra để bao biện. Rồi đến nước mắt, đến ngã xuống, đến hy sinh….lại một trò xưa cũ để xuê xoa lòng người.
Nhưng sự bi hài chưa dừng ở đó, vào vai diễn một cách thái quá có lẽ do sân khấu quá lớn mà một diễn viên không tên tuổi được đẩy lên. Vũ Tiến Anh trong bài viết của mình không biết vì cao hứng hay vô tình đã vẽ ra một Hồ Chí Minh hoàn toàn mới lạ chưa từng thấy trong hàng trăm nghìn cuốn sách, tư liệu của hàng nghìn tác giả viết về HCM từ xưa đến nay.
Như ” HCM dặn anh em phải thật thà…làm gương cho lớp sau “‘ rồi lại có đoạn vì tình hình Đảng rút vào hoạt động bí mật vì trên danh nghĩa tuyên bố giải tán , lý do đó bác Hồ phải nói ” quân đội ra trung với nước, hiếu với dân” rồi ” khi vai trò lãnh đạo của Đảng đã được khẳng định công khai, bác Hồ nói – quân đội ta trung với Đảng, hiếu với Dân.
Trời hỡi, Vũ Tiến Anh định lấy HCM ra minh hoạ cho mục đích của mình hay còn ý đồ gì đây mà vẽ hình tượng lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam như vậy. Vì lúc đó giả vờ giải tán vào bí mật phải thế nầy nên nói thế, sau này khi đã khẳng định vị trí  rồi thì nói khác, cái khác đấy mới là đúng nhất. Lẽ nào mai kia có người khi cần lại nói vì lúc đó như vậy nên HCM nói thế, thực ra là sau này Người nói ở chỗ kia là quân đội ta Trung với Nước, Hiếu với Dân mới là chính xác tư tưởng của Người.
 Kể lể kiểu Vũ Tiến Anh như thế để phục vụ mục đích lập trường là ” quân đội trung với Đảng là đúng tư tưởng HCM ” Nhưng  thử hỏi người đọc có hiểu thế nào cho đúng về hình tượng lãnh tụ khi mà câu nói chả biết lúc nào là Người nói thật, nói chính xác.?
Không cần đứng trên khía cạnh đối tượng mà Vũ Tiến Anh đang gọi là những kẻ có luận điệu sai trái. Bài viết này của Vũ Tiến Anh chắc chắn sẽ làm cho những cây lý luận gạo cội, đồng đội chiến tuyến của ông ta cũng phải giật mình vì những sơ hở không thể chấp nhận nổi. Chả thế mà dân gian ta có câu
- yêu nhau như thế bằng mười hại nhau.
Nhưng thôi đó là chuyện của các đồng chí ông Vũ Tiến Anh. Dù sao trên cương vị người dân tôi cũng cám ơn ông một diễn viên không biết vì quá tồi hay quá xuất sắc đã làm vở kịch này có thêm nhiều bi hài, xúc cảm cho người xem nhất là một hình tượng mới, góc nhìn mới của ông về lãnh tụ HCM. Cũng không quên cám ơn các báo, đài đã nỗ lực liên tiếp đưa nhiều vai diễn như ông Vũ Tiến Anh trong những ngày qua để mang lại cho người xem nhiều mầu sắc.
Ai nói chế độ CNXH là không vui, cứ thế này bảo sao người dân chúng ta không vui vẻ mà cho mình hạnh phúc thứ nhì thế giới cơ chứ.?

Đã đến lúc cùng ngồi lại để bàn về lối ra


Có một sự thật lịch sử là những khi nào đảng cộng sản Việt Nam giương cao ngọn cờ Dân tộc – Dân chủ, bám sát nguyện vọng của quần chúng nhân dân thì đảng giành thắng lợi to lớn.
Thời kỳ Cách mạng Tháng 8-1945 Hồ Chí Minh biết mềm dẻo và khôn khéo thành lập mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp tất cả các lực lượng có xu hướng chính trị khác nhau để huy động sức mạnh toàn dân tộc đánh đổ phong kiến và thực dân nên đã thành công.
Các cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ có nền tảng vững chắc là tinh thần yêu nước, căm ghét ngoại xâm luôn mãnh liệt trong huyết quản của mỗi con dân nước Việt lại được sự lãnh đạo đúng đắn lúc đó của đảng khi đã đoàn kết được mọi tầng lớp xã hội và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ, toàn diện của quốc tế nên đã thắng lợi vẻ vang.
Chính sách người cày có ruộng thời những năm 1950 hay chủ trương “khoán sản phẩm trong nông nghiệp” xuất phát từ sáng kiến của ông Kim Ngọc đã thực sự tạo nên tinh thần phấn chấn và động lực kinh tế mạnh mẽ đối với hàng chục triệu nông dân. Chủ trương Đổi mới những năm cuối của thập kỷ 80 thế kỷ trước cũng đã khơi dậy sức mạnh thần kỳ như Thánh Gióng của cả dân tộc giúp đất nước khởi sắc để hội nhập quốc tế và cất cánh.
Tuy nhiên trong quá khứ đảng cũng có những sai lầm và thất bại khi đưa ra khẩu hiệu “trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ” chịu ảnh hưởng của lý luận đấu tranh giai cấp, cách mạng vô sản cực đoan, tả khuynh không phù hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam khiến cách mạng thoái trào sau sự kiện Xô viết Nghệ Tĩnh.
Cải cách ruộng đất, “nhân văn giai phẩm”, “chủ nghĩa thành phần, lý lịch”, cải tạo tư bản tư doanh ở Miền Bắc năm 1954 và Miền Nam sau năm 1975 là những bài học đau xót vì đã áp dụng cứng nhắc các giáo điều đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản Mác-Lê khi chưa hiểu rõ hiện tình đất nước và khát vọng của dân tộc.
Vẫn biết khát vọng Độc lập dân tộc là trường tồn, mãnh liệt và bao trùm nhưng khi dân tộc đã có Độc lập rồi thì một cách tự nhiên quần chúng đòi hỏi quyền Tự do, Dân chủ và cuộc sống Hạnh phúc không phải chỉ trên khẩu hiệu, lời hứa suông hay những dòng chữ vẫn được in trên tiêu đề của các biểu mẫu văn bản giao dịch.
Nhân dân đã có Tự do chưa khi quyền được phát ngôn, góp ý nêu nguyện vọng về những vấn đề trọng đại qua các cuộc Trưng cầu dân ý vẫn bị “treo” đã 67 năm từ 1946 cho tới nay? Chưa kể những quyền Tự do khác cứ bị “teo” dần trong những bản Hiến pháp ra đời sau này.[1] Những quyết định trọng đại có ảnh hưởng tới đất nước như dự án khai thác Bô Xít Tây Nguyên, sáp nhập Hà Tây vào Hà nội v.v… người dân nào có quyền biểu quyết!
Đặc biệt, gần đây các nhân sĩ trí thức tiêu biểu, các cán bộ Cách mạng lão thành cùng hàng ngàn người dân đủ mọi thành phần trong và ngoài nước tham gia góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992 lại lập tức bị quy kết là “suy thoái tư tưởng, tác phong và đạo đức” hoặc “lợi dụng tự do dân chủ để chống phá chế độ”, “làm đảo chính mềm” v.v…. Hỏi rằng dân chủ XHCN là như vậy thì còn thu phục được ai đi theo đây? Hồ Chí Minh có sống lại chắc Người cũng phải nhỏ lệ trước hiện thực tê tái này.
Nếu như chính sách “người cày có ruộng” ngày nào đã tạo nên động lực to lớn cho Cách mạng thì giờ đây vì sao lại để xảy ra tình trạng biểu tình, khiếu kiện trên cả nước vì mất đất và đi liền với đó là nạn tham nhũng của đội ngũ hùng hậu các quan tham có quyền phân đất hay đúng với sự thật hơn là cướp đất của nông dân? Những “hậu sinh khả úy” của nghị Quế, nghị Hách năm xưa giờ đây lại ra rả nói rất hay về “học tập tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh” và lòng trung thành với đảng cộng sản Việt Nam khiến những người còn chút lương tri trong và ngoài đảng vô cùng ngao ngán và phẫn uất.
Phải chăng chính sách về ruộng đất gần đây trong Hiến Pháp đã thể hiện sự xa rời quần chúng khi mà nhà nước thâu tóm lại toàn bộ quyền sở hữu về đất đai?
Sự xa rời đã tới mức nguy hiểm khi nhiều cơ quan công quyền không đánh giá đúng tâm trạng người dân bức xúc trước hành động xâm lấn Biển Đông của những lực lượng diều hâu ở Bắc Kinh, xuống đường hoặc có những hành động phong phú khác biểu thị lòng yêu nước, thì lại bị ngăn chặn, đàn áp thô bạo. Những lập luận cho rằng có các thế lực thù địch sẽ lợi dụng biểu tình để chống đối nhà nước rõ ràng không thể đứng vững nếu nhớ lại thời chống Mỹ trên cả nước đã có biết bao cuộc tuần hành khổng lồ của quần chúng để tỏ rõ ý chí quật cường của dân tộc Việt trước giặc ngoại xâm. Phải chăng chính quyền thời nay đã rất khác thời đó nên mối quan hệ trong một số lĩnh vực với nhân dân cũng khác xưa, thay vì đồng thuận lại trở nên đối kháng?
Hay là vì phải giữ “hòa hiếu” và tôn trọng các “cam kết cấp cao ở Thành đô” với thế lực bành trướng Đại Hán đang muốn nuốt chửng Biển Đông bằng cái lưỡi bò bất chấp luật pháp quốc tế thì chính quyền phải “hèn với giặc và ác với dân” như trước đây Tự Đức đã hành xử khi Pháp xâm lược đầu thế kỷ XIX và Trần Nhật Hiệu với lời tấu “Nhập Tống” hèn nhát bên thềm cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất?
Mọi sự nhân nhượng hay “động tác khéo léo” dù mang tính chiến thuật với quân xâm lược nếu thiếu đi sự thông cảm và hậu thuẫn mạnh mẽ của nhân dân yêu nước xưa nay đều thất bại. Chẳng lẽ trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc còn thiếu các bài học đắng cay hay sao ?
Vả chăng có người còn thành tâm nâng niu cái “tài sản vô giá là ý thức hệ chung giữa hai ĐCS Trung Quốc và Việt Nam” khi biết rõ rằng đối với Bắc Kinh không có đồng minh theo ý thức hệ mà chỉ có quyền lợi thực dụng theo kiểu “Mèo trắng hay mèo đen miễn bắt được chuột …” là trên hết.
Không biết cái ý thức hệ của “bạn” nó cao cả và phù hợp với Việt Nam tới đâu mà Tổng bí thư kiêm Chủ Tịch Trung Hoa Tập Cận Bình gần đây trong một phát biểu với cán bộ ở Bắc Kinh đã tỏ ra lo ngại về 2 mối đe dọa lớn nhất hiện nay là sự suy yếu lòng tin của dân chúng và sự gặm nhấm của tham nhũng có thể khiến ĐCS Trung Quốc chỉ đón nhận sinh nhật đến lần thứ 100, tức là chỉ còn 8 năm … .[2] Chẳng lẽ chúng ta cũng quyết cùng chung ý thức hệ với “bạn 16 chữ vàng và 4 tốt ” để rồi cùng tiêu vong sau mấy năm nữa?
Chẳng ai nói dối hay lừa mị nhân dân được mãi, thử hỏi những cán bộ mũ cao, áo dài thường lên lớp về chủ nghĩa Mác- Lê, về liên minh giai cấp công–nông và cách mạng vô sản hay định hướng XHCN có ai còn là vô sản hay người nào cũng có của chìm, của nổi ở cả trong và ngoài nước trị giá nhiều tỷ rồi?
Nếu thật sự là trung thành với ý thức hệ của giai cấp vô sản thì các vị có dám dũng cảm tổ chức những “Tuần lễ Vàng” để quyên góp phần lớn khối tài sản khổng lồ của mình vào công quỹ giúp đỡ người nghèo và phát triển đất nước theo tinh thần “hữu ái vô sản” hay không?. Và nếu mai mốt những người nông dân bị mất đất, hết kế sinh nhai, những công nhân bị thất nghiệp do nhà máy bị phá sản bởi quan tham đục khoét như đã xảy ra với Vinashin, Vinalines v.v…và đám thị dân cùng sinh viên ra trường thiếu việc làm tụ họp nhau lại để hô những khẩu hiệu cách mạng vô sản cướp lại của cải từ tay người giàu một lần nữa thì các vị có ủng hộ như cách đây gần 70 năm nữa không?
Xem ra thì ngọn cờ ý thức hệ mà đảng đang giương cao không tập hợp được quần chúng yêu nước hiện nay vì những người cầm cờ đang thiếu chính danh và lòng tin của quần chúng.
Và nếu không làm được như thế thì hãy một lần trung thực với bản thân và nhân dân để cùng ngồi lại với các tầng lớp xã hội không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, tôn giáo hay dân tộc và chính kiến để bàn về một lối ra khả dĩ nhất cho tương lai dân tộc.
Tại thời điểm này của thế kỷ XXI lịch sử đã sang trang, thế giới đã khác trước khi không còn sự đối kháng ý thức hệ giữa hai phe Cộng sản và Tư bản suốt thời kỳ “chiến tranh lạnh” và dân Việt Nam ta cũng khác trước. Đúng như lời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu, đại ý “người ở nhà tranh thì suy nghĩ khác người ở nhà ngói…”, giờ đây khi cơm đã no, áo đã ấm và TV, tủ lạnh, xe cộ và các tiện nghi sinh hoạt vật chất khác đã tạm gọi là đầy đủ đối với số đông quần chúng thì nhu cầu có nhiều hơn tự do tinh thần, tư tưởng và hoạt động cộng đồng đa dạng theo sở thích và sở trường riêng đã trở nên ngày một phổ biến và cấp thiết.
Thế giới vốn đa nguyên và xã hội loài người cũng vậy. Một chính đảng có thể giành thắng lợi trong những giai đoạn lịch sử nhất định nhưng nếu không trau dồi sức chiến đấu, gần gũi với quần chúng thì sẽ dần tha hóa và bị chính quần chúng đào thải để cho những lực lượng chính trị hay đảng phái khác có sức sống hơn tiến lên vũ đài. Bằng cách hiến định quyền lãnh đạo mọi mặt xã hội Xô Viết tại điều 6 trong Hiến Pháp năm 1977 ĐCS Liên Xô tại sao vẫn sụp đổ ? Ấy là vì lý tưởng của đảng đã bị nhạt phai và đảng đã tự mình xa rời quần chúng để trở nên một tổ chức suy thoái,mất sức chiến đấu do ở trên đỉnh cao quyền lực độc tôn quá lâu mà không bị cạnh tranh để phải luôn tự mài sắc vũ khí.
Theo tinh thần đó bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến Pháp 1992 do 72 nhân sĩ, trí thức và các vị lão thành Cách mạng khởi xướng cần được nhìn nhận như một hành động yêu nước và có trách nhiệm với dân tộc khi họ dũng cảm đề đạt đường hướng giúp đất nước thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng sâu sắc, toàn diện trong khi giặc ngoại xâm đang xâm nhập sâu vào các mặt chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội v.v…và lăm le ngoài Biển Đông như hiện nay.
Có điều, đó mới chỉ là những đường hướng đúng đắn và đã đến lúc đảng, nhà nước và tất cả các lực lượng xã hội trong và ngoài nước cần ngồi lại với nhau để tìm ra những con đường đi cụ thể theo tinh thần Diên Hồng, không bạo lực, quên đi quá khứ và không hồi tố.[3] Hy vọng rằng lãnh đạo ĐCS Việt Nam sẽ thể hiện thiện chí và chủ động nắm bắt lấy cơ hội quý báu này để một lần nữa đảng vẫn giương cao thắng lợi ngọn cờ Dân tộc – Dân chủ và tiếp tục xứng đáng là một đảng cầm quyền như Hồ Chí Minh trong Di chúc đã căn dặn.
Thăng long- Hà nội 6/3/2013

[1] Hoàng Xuân Phú. “Teo dần quyền con người trong Hiến Pháp”. Blog Hoàng Xuân Phú. 15/1/2013
[2] Theo Infonet ngày 4/3/2013
[3] Nguyễn Trung. “ Thư ngỏ gửi Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ nước CHXHCNVN” (viet-studies ngày 19/2/2013)

“Nói với mình và các bạn”: “Tham gia chính trị” là làm gì?


Dưới đây là bài viết thứ ba trong loạt bài “Nói với mình và các bạn: Vẻ đẹp của chính trị”. Mục đích mà loạt bài hướng tới là góp phần giúp độc giả, nhất là các bạn trẻ, hiểu hơn về chính trị, về sự tham gia, về tự do ngôn luận và sự phân biệt giữa tự do ngôn luận với xúc phạm người khác, về hiến pháp, quyền lập hiến và quyền tẩy chay hiến pháp, bất phục tùng dân sự. Còn mục đích của bài thứ ba và thứ tư là làm rõ về khái niệm “làm chính trị”, “hoạt động chính trị”, nói ngắn gọn là “sự tham gia”.
* * *
Kỳ 3: “THAM GIA CHÍNH TRỊ” LÀ LÀM GÌ?
Chúng ta thường hay nghe, trong xã hội, có những người hay nói: “Tôi không làm chính trị”, “Tôi biết thế thôi chứ tôi không tham gia”… Nếu ta hỏi lại: “Làm chính trị là làm gì cơ?”, câu trả lời của họ sẽ là: “Thì tức là tham gia chính trường, đấu đá, leo cao, tranh giành quyền lực…”.
Đó có lẽ cũng là cách hiểu của đại đa số người dân Việt Nam về hành động “làm chính trị”. Cách hiểu ấy cho thấy rằng, chúng ta gần như không biết gì về chính trị, và quan niệm của chúng ta về lĩnh vực bao trùm xã hội này đã bị bóp méo quá nhiều bởi một chính quyền, một nền giáo dục, một nền văn hóa chính trị hoàn toàn không khuyến khích người dân tư duy để “nâng cao nhận thức chính trị”.
Trên thực tế, nếu chúng ta hiểu chính trị là “quá trình ra quyết định và thực thi quyết định đó trong một nhóm, một cộng đồng, một xã hội, một quốc gia”, thì hoạt động chính trị hẳn phải rộng hơn rất nhiều so với việc “đấu đá, leo cao”, và nó càng không phải chỉ giới hạn trong một giới gọi là “lãnh đạo”. Hoạt động chính trị, theo nghĩa rộng, là tất cả những gì bạn làm để tạo áp lực lên một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức, nhằm thuyết phục họ hành động như ý bạn muốn.
Phong trào “trên 25 độ C”
Ta hãy lấy một ví dụ vui vui và đơn giản (dĩ nhiên là bịa) để cùng hiểu thế nào là “hoạt động chính trị” theo nghĩa rộng. Giả sử bạn làm việc ở TP.HCM, và bạn nhận thấy là các cơ quan, công sở nơi bạn đến đều để điều hòa nhiệt độ ở mức rất lạnh, có khi chỉ 17-18 độ C, vừa tốn năng lượng (điện), vừa hại môi trường, vừa hại sức khỏe – lần nào vào phòng họp, bạn cũng rét run cầm cập.
Bạn nghĩ là sẽ phải làm thế nào đó để tổ chức của bạn, hoặc các cơ quan, công sở mà bạn biết, hoặc nhiều hơn nữa, mọi cơ quan, công sở trên địa bàn thành phố đều đặt máy điều hoà nhiệt độ ở mức cao hơn, chẳng hạn trên 25 độ C. (Như vậy là bạn đã có ý thức chính trị).
Sau đấy thì bạn sẽ hành động. Đầu tiên là ngay trong tổ chức của bạn. Có nhiều cách để bạn thuyết phục cơ quan làm điều bạn đang muốn: Bạn có thể gặp riêng sếp, “bỏ nhỏ”, rỉ tai, nhờ sếp ra quy định yêu cầu toàn thể nhân viên “chỉ để điều hòa nhiệt độ từ 25 độ C trở lên”. Bạn có thể gửi thư chung cho cả cơ quan, kêu gọi, vận động “anh chị em tăng điều hòa nhiệt độ lên đê!”, rồi thủ thỉ “trên 25 độ C, vừa tiết kiệm điện, vừa đảm bảo chênh lệnh nhiệt độ hợp lý so với bên ngoài, đỡ hại sức khỏe”. Để thuyết phục hơn, bạn thậm chí còn nghĩ ra một phong trào, mang cái tên chung, chẳng hạn, là “Trên 25 độ C”.
Nếu bạn muốn đi xa hơn, làm sao để tất cả các cơ quan, công sở, đều thực hiện “trên 25 độ C”, thì bạn sẽ phải tính toán thêm một chút, để người ta không bảo bạn là điên, dở hơi, rỗi việc. Trong những trường hợp như vậy, thường thì bạn nên “có tổ chức”.
  • Bạn phải huy động thêm một số người cùng nghĩ như bạn vào việc thuyết phục;
  • Hoặc bạn phải lôi kéo được một tổ chức nào đó có liên quan, ví dụ một NGO, một cơ quan báo chí, một kênh truyền hình về môi trường, cùng tham gia ủng hộ, đứng sau lưng bạn
  • Hoặc bạn thành lập một tổ chức của riêng bạn. Việc này thì không đơn giản, bởi vì bạn sẽ phải tính đến các yếu tố như: thủ tục thành lập, nhân sự, vốn, mục đích (cái này các NGO thường hay gọi là “sứ mệnh”, còn ngôn ngữ hành chính nước ta hay gọi là “chức năng, nhiệm vụ”). Không lẽ lập một tổ chức chỉ để vận động các cơ quan, công sở tăng điều hoà nhiệt độ lên trên 25 độ C?
  • Hoặc, trong kỷ nguyên Web 2.0 hiện nay, cách đơn giản là bạn phát động một phong trào “25 độ C” trên mạng xã hội và được đông đảo người dùng Internet hưởng ứng.
  • v.v.
Nào, ta thử bảo vệ môi trường!
Nếu mối quan tâm của bạn vượt khỏi chuyện “để điều hòa nhiệt độ trên 25 độ C”, mà là bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng nói chung, thì bạn có thể thực hiện nhiều hành động chính trị hơn nữa, ví dụ:
- Bỏ phiếu cho đại biểu quốc hội nào thể hiện sự quan tâm đến vấn đề môi trường, đưa việc cải thiện môi trường vào chương trình hành động… Đến đây, bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép bạn chọn được người mà bạn ủng hộ vào cương vị bạn cho là thích hợp.
Tiếp xúc với các đại biểu quốc hội để nhờ vả, thuyết phục họ lưu tâm đến các vấn đề môi trường và đưa ra các đạo luật hay chính sách mà bạn cho là thích hợp. Cái này gọi là “vận động lập pháp”, “vận động chính sách”. Đến đây, bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép bạn vận động một cách đàng hoàng, minh bạch, mà nó chỉ có nghĩa là “đi đêm”, “hối lộ”.
- Tổ chức và tham dự các hội nghị, hội thảo, thảo luận bàn tròn v.v. về các chủ đề môi trường. Đến đây, bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép bạn dễ dàng tổ chức hội nghị, hội thảo, thảo luận bàn tròn v.v.
- Viết bài đăng báo. Đến đây, bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam là rất khó có diễn đàn nào để bạn lên tiếng. Cứ cho là bạn có khả năng và kỹ thuật viết, bạn viết một bài báo rất chuyên nghiệp, cũng không chắc là bài của bạn sẽ được đăng tải trên báo chí chính thống, có khi chỉ đơn giản vì ban biên tập không quan tâm đến vấn đề môi trường. Bạn muốn tìm một tờ báo về môi trường, thì lại không có, mà giả sử có thì cũng không được tới 1000 người đọc. Nếu bạn tự quay phóng sự truyền hình để gửi tới đài truyền hình (trung ương hoặc địa phương) thì lại càng khó khăn hơn nữa, gần như không có cơ may nào để tác phẩm của bạn được phát sóng.
- Thành lập một tổ chức về môi trường. Đến đây bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép bạn dễ dàng lập hội.
- Tham gia một tổ chức về môi trường. Đến đây bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép các tổ chức dân sự dễ dàng hoạt động. Họ vấp phải đủ vấn đề: thủ tục, nền tảng luật pháp, nhân sự, tài chính, v.v.
- Làm đơn khiếu nại, tố cáo, khởi kiện. Đến đây bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép các vụ việc của một cá nhân được giải quyết nhanh chóng, dễ dàng, thuận tiện. Đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiện tụng của bạn sẽ bị chìm lấp trong hàng nghìn đơn thư khác, vụ việc của bạn rất có nguy cơ bị lãng quên.
v.v.
Có thể còn nhiều hành động chính trị khác nữa, gồm cả những hành động mà bạn chắc hẳn chưa từng nghĩ tới và không biết đó chính là “làm chính trị”.
Nếu bạn quan tâm, chúng ta sẽ tìm hiểu về chúng trong bài sau, tức là phần tiếp theo của bài này, để trả lời một cách cụ thể: Tham gia chính trị là làm gì (lý thuyết và thực tế trên thế giới)? Chúng ta sẽ biết được rằng, những cuộc “đấu đá, tranh giành quyền lực nội bộ” chỉ là một trong những hình thức hoạt động chính trị mà thôi; khái niệm làm chính trị rộng hơn và có thể đẹp đẽ hơn thế rất nhiều.
Kỳ sau: Từ “tuyên truyền, vận động” đến… bạo động

Lời Truyền Miệng Dân Gian Về Nỗi Bất Hạnh Của Một Số Nhà Trí Thức Nho Gia (kinh nghiệm điền dã)

Trong Cõi - Bài số 15, nxb Trăm Hoa, New York 1993, trang 233-261
Đây là một thể nghiệm tri thức bất ngờ của tôi trong khi đi công tác điền dã ở đồng bằng Bắc bộ trong mấy năm qua.
Bất ngờ, vì tôi không dự kiến trước và cũng không định nhằm vào đó khi đi điền dã (thường trước hay trong mỗi công cuộc điền dã, tôi thường hoạch định, ít nhất là trong đầu óc, một dự tính tìm tòi nào đó, về khảo cổ, lịch sử hay là folklore…).Đây là một thể nghiệm tri thức bất ngờ của tôi trong khi đi công tác điền dã ở đồng bằng Bắc bộ trong mấy năm qua.
Bất ngờ, vì trong phạm vi sách vở mà tôi đọc được ở Việt Nam, tôi chưa thấy ai viết về vấn đề này trong tiểu sử của các vị trí thức nho gia của Việt Nam mà tôi sẽ kể ra dưới đây.
Tôi không khẳng định rằng những điều tôi viết ra dưới đây là những sự thực lịch sử (vérités historiques) – theo cái nghĩa là vì chúng đã không được ghi chép lại trong một tài liệu nào đó ở đương thời, hay ở một thời kỳ tương đối muộn hơn, trong chính sử, dã sử, hay là địa phương chí…
Đây là những lời truyền miệng dân gian, cho nên cùng lắm, chúng chỉ có thể coi là những giai thoại mà nếu không khó tính lắm, ta cũng có thể gọi là những giai thoại lịch sử.
Với tư cách là một nhà nghiên cứu dân gian học (folkloriste) chứ không phải là một nhà sử học trong trường hợp này, tôi có quyền coi chúng là những đối tượng sưu tập và nghiên cứu của mình hay đó là cái “sở tri” của tôi, với tư cách một chủ thể “năng tri”.
Nó có thể có ích trong việc nghiên cứu Folklore Việt Nam hay trong việc tìm hiểu tâm thức dân gian Việt Nam hiện vẫn còn sống động.
Nói theo kiểu Pháp, những điều tôi cố gắng ghi lại một cách trung thực qua công tác điền dã dưới đây là thật mà không chắc là thực. Ngồi rỗi ở Cornell thì viết chơi, vậy thôi…
Tôi bắt đầu từ câu chuyện vị tiến sĩ vô danh ở làng Đường Lâm, nay thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội.
Vô danh, vì dân làng quên tên vị tiến sĩ này rồi và vì tôi cũng không biết. Có thể biết (dù có hay không một vị tiến sĩ của Đường Lâm), nếu ta chịu khó tra cứu danh sách các tiến sĩ Đại Việt qua sách “Đăng Khoa Lục”, hiện tàng trữ ở Thư Viện Khoa Học Xã Hội Trung Ương, hay qua việc lần tìm tên tuổi các vị tiến sĩ ở 82 tấm bia “Tiến sĩ đề danh” hiện còn đặt để ở Văn Miếu Hà Nội. Nhưng tôi cũng chưa làm được việc này (vì làm biếng thôi).
Cổng làng Đường Lâm
 Làng Đường Lâm, nay thuộc xã Đường Lâm, là quê hương của hai vị anh hùng dân tộc: Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng ở thế kỷ VIII và Ngô Vương Quyền ở thế kỷ X. Dân làng này rất tự hào, vì làng họ là một làng “đặc biệt”: một làng sinh 2 vua mà lại đều là anh hùng dân tộc, không có vấn đề gì phải “xét lại” cả.

Vậy là một làng rất đáng được nghiên cứu, ít nhất là về phương diện lịch sử và bảo tàng học. Ở đây còn lăng và đền thờ Ngô Quyền, đền thờ Phùng Hưng và một tấm bia cổ đời Trần nói về sự tích Phùng Hưng. Cùng một vài truyền thuyết dân gian…
Nhưng lạ thay, ở Đường Lâm không còn một gia đình họ Phùng hay họ Ngô nào khả dĩ có thể xem là con cháu xa đời của 2 người anh hùng dân tộc (ở gần đó thì có làng Phùng Xá của Phùng Khắc Khoan – nhân vật lịch sử thế kỷ XVI).
Theo kinh nghiệm điền dã của giáo sư Từ Chi (Trần Từ) và của tôi (1) thì mỗi làng Việt Nam cổ truyền thường được chia làm nhiều Giáp (một tập hợp dân làng theo lứa tuổi và chỉ bao gồm đàn ông thôi), với số lượng chẵn, bắt đầu là 2 (như hai “nửa làng”), theo cấu trúc lưỡng phân lưỡng hợp, rồi có thể, với thời gian, phân hóa kiểu “lưỡng phân” (chia 2) thành 4, 8 v.v…
Trong một cuộc điều tra hồi cố (rétrospective) cuối thập kỷ 60 (Giáp đã không còn tồn tại ở các làng quê Bắc Bộ sau Cách mạng tháng Tám 1945), tôi gặp một bất ngờ ở Đường Lâm. Các cụ già ở đây (còn tham gia sinh hoạt hàng giáp trước 1945 và còn nhớ rõ tên và số giáp cùng cái giáp mà đàn ông gia đình mình tham dự, theo kiểu cha truyền con nối) bảo với tôi rằng: Làng Đường Lâm có 3 giáp: Giáp Đông, Giáp Bắc, Giáp Nam, những cái tên này (Đông, Bắc, Đoài) từ lâu chỉ còng là những tên tượng trưng thôi, nhưng vẫn phản ánh rằng đã có một thời kỳ (như vẫn hiện còn sau Cách mạng tháng Tám ở miền Trung) mỗi làng Việt Nam được phân chia thành giáp theo địa vực, như một tổ chức dân vệ (quân sự) địa phương, sau mới mang ý nghĩa thuần túy xã hội, dân gian, theo lớp tuổi.
Sân đình làng Đoài Giáp
Vì sao làng Đường Lâm chỉ có 3 Giáp?
Vì lý thuyết “cấu trúc lưỡng hợp” được gợi hứng từ chủ thuyết của Claude Lévi Strauss (2) mà chúng tôi ứng dụng, vào Việt Nam là sai? Hay vì một lý do riêng biệt của làng Đường Lâm?
Kinh nghiệm điền dã, được chúng tôi học hỏi từ André Leroi Gourhan (3), mách bảo chúng tôi rằng: Bất cứ một vấn đề gì đề xuất ra khi đi điền dã, thì phải hỏi đi hỏi lại và hỏi nhiều người khác nhau. Với kinh nghiệm ấy áp dụng ở Đường Lâm, cuối cùng, tôi được dân làng cho biết rằng: làng Đường Lâm trước đây ba, bốn trăm năm (thời gian mơ hồ của trí nhớ dân gian) vốn có 4 Giáp.
Tôi thở ra nhẹ nhõm. Thế là “lý thuyết cấu trúc ĐÔI” của “chúng tôi” vẫn đúng. Cái Giáp thứ 4 ấy là giáp nào? Và nó đi đâu rồi?
Đó là giáp Đoài (giáp Tây). Hiện nó vẫn còn đấy, ở phía tây làng Đường Lâm, nhưng từ lâu nó đã “chạy biệt xá”. Quả thật, trên điền dã, tôi còn trông thấy làng Đoài Giáp ở phía tây, sát nách làng Đường Lâm.
Và làng Đoài Giáp này đã trở thành một trường hợp đặc biệt của tổ chức làng xã Việt Nam: 1 xã = 1 làng = 1 giáp.
Vì sao Đoài Giáp tách khỏi làng gốc Đường Lâm để trở thành một làng riêng?
Đây là lời giải thích của các cụ già làng:
- Vào thời Lê (1427-1527 rồi 1592-1768), trong làng có một người học trò đi thi đậu tiến sĩ (học vị cao nhất ở một Đại Việt theo Nho giáo ngày xưa). Phép vua ngày trước cho các vị tân khoa tiến sĩ được rước biển “Ân Tứ Vinh Quy” về làng, và cả hàng tổng hàng xã phải đi đón rước vị tiến sĩ đó và dựng cho vị tiến sĩ mới một cái nhà, tùy tâm tùy lực của hàng xã hàng tổng.
Đấy là một thủ pháp khuyến khích việc học, việc thi, đem lại vinh dự lớn – và cả quyền lợi nữa – cho vị tiến sĩ đó cùng cả họ “một người làm quan” – vì đậu tiến sĩ rồi sau 1-2 tháng sẽ được bổ ngay một chức quan tối thiểu là Tri huyện, “cả họ được nhờ” (thành ngữ dân gian).
Về lý thuyết, đấy cũng là vinh dự của cả làng, cả tổng (nhưng có thể vì thế mà làng, xã, tổng mất một số đất công cùng nhân lực, vật lực để làm nhà cho vị tiến sĩ đó).
Thành ngữ dân gian cũng có câu: “Chưa đỗ ông nghè (tiến sĩ), đã đe (doạ nạt) hàng tổng” (4).
Nhưng dân làng Việt Nam ngày xưa còn sống và ứng xử theo kiểu “Phép vua thua lệ làng”. Không hiểu sao (dân làng không còn nhớ nữa) lần này dân làng Đường Lâm không đi đón rước vị tiến sĩ người làng này. Theo cách giải thích “duy vật chất”, ta sẽ nghĩ đến lý do dân làng sợ hao phí tài sản, đất đai…
Song, trong nhiều trường hợp khác thì không hẳn như vậy: Người tiểu nông Việt Nam, và người Việt Nam nói chung, không nề hà gì trong việc bỏ ra một số tiền của lớn cho một danh vị “hão” hay là “ảo tưởng”, một chức nhiêu, chức xã, một đám ma, đám cưới hay một hội hè, đình đám… vốn có tác dụng phá vỡ cái đơn điệu buồn bã hay quá bình lặng của sinh hoạt làng quê.
Chỉ riêng giáp Đoài (tức 1/4 làng Đường Lâm cũ), hẳn là giáp của ông nghè tân khoa, cử người đi đón rước ông tiến sĩ. Và thế là ông tiến sĩ tìm cách “rửa hận”.
Sau khi được làm quan, ông đã xin, và được triều đình chuẩn y cho tách giáp Đoài ra khỏi cơ cấu hành chính xã hội của làng, xã Đường Lâm để trở thành một làng, xã riêng: Làng Đoài Giáp, xã Đoài Giáp. Tên đó và tổ chức đó còn tồn tại cho đến ngày nay… (Hiện nay việc tách xã, nhập xã ở Việt Nam vẫn phải do chính phủ trung ương xét duyệt).
Nhiều ông thầy Mác-xít giảng bài ở Đại Học Việt Nam vẫn cho rằng việc tăng làng, tăng xã ở Việt Nam là do lý do kinh tế, do sự dồn ép vì tăng trưởng số dân, do sự khai thác thêm đất đai v.v…
Ở trường hợp làng Đường Lâm, Đoài Giáp, đấy là một lý do phi kinh tế, một lý do văn hóa xã hội: ông nghè – bậc trí thức lớn người làng – “có vấn đề” với dân làng!
Lý do sâu xa gì của việc làng Đường Lâm đối xử không tốt với ông nghè làng mình thì cả tôi, cả dân làng hiện nay không còn biết nữa…
Ở một vài làng khác mà tôi đã đến thăm cũng có câu chuyện dân gian tương tự ở Đường Lâm nhằm giải thích việc tách làng, lập làng mới. Vậy đó là một “motif” của folklore Việt Nam.
Họp thế, nhưng tượng cụ Trương Hán Siêu lại là 1 cụ khác
Bây giờ đến trường hợp TRƯƠNG HÁN SIÊU, một danh sĩ thời Trần.
Tiểu sử ông này thì khá là rõ ràng.
Ông người làng Phúc Am, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình cũ, nay là Hà Nam Ninh.
Xuất thân nghèo hèn, có tài văn chương, trở thành môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vì vậy được tiến cử ra làm quan ở triều đình nhà Trần, đến bậc đại quan (Hàn Lâm Học Sĩ, khi mất 1354, tặng chức Thái Bảo).
Tuy đã làm quan, nhưng, như Toàn Thư ghi lại, ông vẫn bị quý tộc triều đình khinh bỉ là “thôn cầu cước” (chân đá cầu nhà quê, nghĩa là một kẻ quê mùa). Khi làm quan ở Lạng Sơn, ông gả con gái cho thủ lĩnh thiểu số ở địa phương (Quang Lang, gần Chi Lăng ngày nay) cũng bị các triều quan đàm tiếu, chê bai…
Ông là tác giả bài “Bạch Đằng Giang Phú”, một áng văn chương nổi tiếng ở đời Trần. Ông cũng là một trong những kiện tướng trong giới nho sĩ bình dân lên tiếng bài bác Phật giáo, với những bài văn bia bài Phật dựng ngay ở một số chùa, trong đó có bài “Linh Tế Tháp Ký”, khắc để ngay ở chân tháp Linh Tế dựng trên núi Non Nước ở ngã ba sông Đáy, Van Sàng (thị xã Ninh Bình), ngay gần làng quê của ông. Ông là người đặt tên cho núi Non Nước ở quê ông, một cái tên chữ Hán mang ý đẹp: Dục Thúy Sơn: Núi như hình con chim Trả đang tắm gội.
Có một điều này ít ai để ý tới: khi về già, ông lại tỏ ý hối hận về việc lầm lỗi đi công kích Phật Giáo ở thời trẻ của mình. Trong bài “Dục Thúy Sơn”, ông viết:
Phù thế như kim biệt
Nhàn thân ngộ tạo phi
Đời lênh đênh trước khác nay,
Thân nhàn mới biết ngày trước lầm to!
(Trần Văn Giáp dịch)
Thế là đến khi về già, về hưu, tà tà ra khỏi việc quan, việc đời, cái chất “duy lý Nho giáo” trong ông đã nhường bước, ít ra là một phần, trước nhu cầu tâm linh, tôn giáo, hình như khó có thể hiểu được ở một Con Người.
Việc “chuyển biến tư tưởng” của ông ở thế kỷ XIV thời mạt Trần làm tôi nhiều phen nghĩ đến cái trường hợp của nhiều cán bộ cộng sản hiện nay ở Hà Nội, Việt Nam.
Thời trẻ, họ hăng hái hoạt động cách mạng, vào đảng Cộng Sản theo chủ thuyết Mác-xít vô thần. Họ ủng hộ hoặc tự mình tham gia phá hủy không ít đình chùa miếu đền. Họ ngăn cản nhân dân, người dân thường, đi lễ bái, hội hè đình đám. Nhưng bây giờ về già, về hưu, thì họ lại cũng “trở về với nhân dân”, nhiều người bây giờ đi giữ đền, giữ đình, giữ chùa, nhiều người vẫn ở nhà với con cháu nhưng mồng Một, ngày Rằm theo lịch Trăng, họ cũng đi lễ đền, lễ chùa, trước còn e dè, dấu diếm, sau thì công khai. Nhiều người, thậm chí còn nghiên cứu cả Phật giáo nữa và một số không ít lắm, vẫn tin vào thần thánh ma quỉ… nghĩa là một thứ “animisme” cuối mùa…
Họ giác ngộ hay là họ suy thoái? Cũng là tùy cách nhìn.
Có nghiệm sinh điều này thì mới hiểu được cái ứng xử của một số vị quan, nho sĩ các triều trước, trong đời sống chính trị thì có vẻ duy lý lắm (“Quỉ thần kính nhi viễn chi” như đức thánh Khổng đã dạy mà) nhưng trong đời sống hàng ngày và khi về già thì họ lại mê tín đủ chuyện.
Tôi chưa bao giờ tin rằng Nho giáo thời xưa cũng như chủ nghĩa Mác-Lê ngày nay đã từng chiếm được địa vị độc tôn ở trong xã hội, trong ý thức hệ Việt Nam, trong tâm thức dân gian… luôn luôn là một tình trạng “hỗn dung”.
Trở lại trường hợp Trương Hán Siêu. Về già, ông làm gác Gió Mây (Phong Vân các) ở trên núi Dục Thúy, ngay cạnh tháp Phật để ngày ngày lên dạo chơi, ngắm cảnh. Và làm nhà ngay chân núi Non Nước, cạnh ngôi đền Mẫu, giữa ngã ba sông. Sống một mình, trơ trọi một nhà, không có làng xóm láng giềng chi chi cả….
Làng ông ở ngay gần đó thôi, cách vài cây số theo cách tính thời nay; sao ông không về làng với họ mạc, xóm giềng? Dân làng ông ngày nay (và lời truyền miệng lan rộng cả khắp vùng quanh núi Non Nước) nói rằng: – Ông ghét bỏ dân làng và dân làng cũng chẳng ưa gì ông…
Khi ông mất, thì làng xóm cũng chẳng thờ phụng gì. Ngôi đền thờ ông, mà người làm sách ngồi ở tận kinh đô viết, bảo là ở quê ông, kỳ thật là ở chân núi Non Nước, trên nền nhà cũ của ông. Mà bây giờ cũng chẳng còn nữa. Và cũng chẳng ai buồn nghĩ đến việc dựng lại…
Vì sao vậy? Cái “vấn đề” của ông với dân làng vẫn cứ là một điều bí ẩn, day dứt… Vì dân tin Phật mà ông thì ghét Phật chăng? Cái đó cũng có thể có một phần. Nhưng tôi e rằng đó chưa phải là điều cơ bản. Dù chưa biết gì, nhưng tôi tiên cảm thấy đó là do cái căn cước xã hội hơn là lý do tôn giáo, người Việt Nam cổ truyền được cái đức bao dung, ít kỳ thị tôn giáo… Họ hay kỳ thị về “lý lịch”. Điều này ta sẽ thấy rõ hơn ở dưới đây…
Tượng Chu Văn An ở Văn Miếu Hà Nội, mới đúc năm 2003
Bây giờ ta nói đến trường hợp CHU VĂN AN. Ông sinh trưởng vào buổi mạt Trần, khi chế độ quân chủ Phật giáo đã tới hồi suy vong.
Không biết bao giấy mực đã dốc ra để viết về ông. Người đầu tiên có lẽ là Trần Nguyên Đán, học trò tinh thần và bạn ông, nghe tin ông nhận lời từ quê ra Thăng Long dạy Quốc Tử Giám đã ví ông như sao Bắc Đẩu, như núi Thái Sơn, chèo lái trên Biển Học mà đổi mới phong tục, kỳ vọng ông sẽ biến suy thành thịnh.
Bộ “Tứ Thư Thuyết Ước” của ông đã mất về tay giặc Minh, căn cứ trên lời bình của Lê Quý Đôn mà học giả Nguyễn Đăng Thục nêu giả thuyết về Nho Học Chu Văn An với tinh thần “cùng lý chính tâm” là Tâm học, khác xa Tống Nho “cách vật trí tri” và còn đi trước cả Vương Dương Minh.
Thơ ông có 7 bài được Bùi Huy Bích chép lại trong “Hoàng Việt Thi Tuyển” thì Lê Hữu Mục phát hiện tới 5 bài là nói về cảnh chiều tà mà vẫn giữ tinh thần lạc quan (5)…
Nhưng mọi người nói về ông như là một điển hình khí tiết của nhà Nho, khẳng khái, trung thực, tiết tháo, dâng vua bài “Thất Trảm Sớ” xin chém 7 kẻ quyền thần, được bình luận là bài văn bất hủ “nghĩa cảm quỉ thần” (6). Vua không nghe lời, ông treo mũ áo ở Văn Miếu, từ quan về Chí Linh ở ẩn, trở lại với biệt hiệu “Gã tiều phu đi ở ẩn” (Tiều Ẩn)…
Tôi là một học trò trường Chu Văn An, lại cũng làm nghề dạy học, nên cũng hơn một lần xưng tụng ông về “nhân cách nhà giáo” và ám thị về sự thiếu nhân cách và thiếu tôn trọng nhân cách nhà giáo ở thời buổi ngày nay (7).
Nhưng những vấn đề đó không phải là chủ đề của bài này.
Là một kẻ “bất cơ” (không chịu ràng buộc) và tò mò, từ lúc 12 tuổi viết bài chính tả: “Ông Chu Văn An người làng Thanh Liệt huyện Thanh Trì tỉnh Hà Đông” tôi vẫn tự dặn lòng sẽ có ngày về thăm quê hương Thanh Liệt (thôn Văn). Ba chục năm sau, tôi mới có dịp về Thanh Liệt để thăm thú di sản Folklore Hà Nội, Sông Tô.
Hỡi cô thắt lưng bao xanh,
Ghé qua Thanh Liệt thì vào làng anh.
Làng anh Tô Lịch trong xanh,
Có nhiều vãi nhản ngon lành em ăn.
Làng thật đẹp, thế thì vì sao khi từ quan đi ở ẩn, Chu Văn An không về làng mà lại đi sang tận núi Phượng Hoàng Chí Linh xứ Đông? (Năm ngoái 1989, tôi đã tới thăm Phượng Hoàng Sơn, Kỳ Lân Sơn ở Chí Linh với hang động kỳ thú và lăng đền Chu Văn An trang nghiêm).
Người ta thường bảo rằng Chí Linh có núi (Phượng Hoàng, Kỳ Lân…), có sông (Kinh Thầy), cảnh “sơn thủy hữu tình” hơn Thanh Liệt, thích hợp với người ở ẩn hơn, lại xa kinh kỳ Thăng Long hơn, chứ Thanh Liệt chỉ có sông Tô, không có núi, lại quá gần Thăng Long Hà Nội.
Cũng là một lẽ…
Nhưng sao khi đến Thanh Liệt ta lại bất ngờ bắt gặp một cảnh tình quá ơ thờ đối với Chu Văn An, so với việc luận bình ồn ào náo nhiệt về ông ở chốn kinh kỳ?
Không một di tích nào về Chu Văn An được giữ ở Thanh Liệt. Huyền tích cũng không!
Là một nhà folklore học, tôi lại bắt gặp huyền tích Chu Văn An dạy học hay đến mức con vua Thủy Tề cũng đội lốt người lên theo học ở làng Bằng Liệt: Ở đây còn Đền Càn thờ vị học trò thủy cung này của Chu Văn An và ngôi mả (tượng trưng) gọi là “mả thuồng luồng” ở bờ sông Tô Lịch (8).
Ở làng Bằng tôi cũng thu được huyền tích về con vua Thủy Tề cảm ân nghĩa và theo yêu cầu thử thách của thầy Chu Văn An mà hy sinh thân mình để làm mưa, mà lời kể của người dân quê ngày nay khớp đúng với ma thuật cầu mưa theo qui luật Đồng Đại mà Mircea Eliade hay Carf Gustav Jung gọi là “nguyên lý liên hệ đồng thời không nhân quả” (9). Học trò thủy cung Chu Văn An hòa nước trong nghiên mực rồi rảy ra khắp bốn phương trời, tung cả bút lẫn nghiên lên trời tạo nên một cơn “Mưa Đen”, nghiên mực rơi xuống Vĩnh Ninh, Thanh Trì làm thành Đầm Mực (ở ô trũng này có than bùn nên nước luôn đen), bút lông rơi xuống làng Tó (Tả Thanh Oai) nên làng này về sau phát đạt văn chương (đây là quê hương của Ngô Thì Nhậm, danh sĩ thời Tây Sơn – thế kỷ XVIII – và Ngô gia văn phái).
Huyền tích về Chu Văn An hiện hữu ở làng Bằng (Bằng Liệt), làng Tó (Tả Thanh Oai), làng Viềng (Vĩnh Ninh, Đầm Mực), đền thờ ông thì lại ở Huỳnh Cung là nơi tương truyền ông mở trường dạy học mà những tể tướng Lê Quát, Phạm Sư Mạnh… những đại danh sĩ, đại Nho cuối đời Trần đã xuất thân từ trường đó…
Một sự im lặng về ông ở chính làng quê ông Thanh Liệt (cho nên lối chép Sử-Văn là Chu Văn An mở trường dạy học ở quê ông cũng không đúng nốt. Ông mượn đất cuối làng bên (Huỳnh Cung) để dựng trường học).
Đền thờ Phạm Tu ở Làng Thanh Liệt
Vì sao quê hương ông không tự hào về ông mà lại để thiên hạ đề cao ông, thờ ông và thần hóa ông? Còn ở Thanh Liệt lại chỉ có một đền thờ thiêng, quanh năm dân làng và quanh miền tới lễ bái: Đó là đền thờ tướng Phạm Tu, quê gốc Thanh Liệt, sử Trung Hoa chép tên là đại tướng của Lý Nam Đế. Khó nghĩ đến lý do “Bụt chùa nhà không thiêng” vốn cũng là thói thường của tâm thức dân gian.
Nhưng nhà học giả Vũ Tuân Sán và tôi đã tìm thấy cuốn Gia Phả của dòng họ Chu Văn An. Và ở đó có câu chuyện chưa từng được ai chép lại khi viết về Chu Văn An:
Ông không phải gốc người Thanh Liệt theo tâm thức “quê Cha đất Tổ” của người Việt Nam. Thanh Liệt chỉ là quê mẹ ông.
Cha ông, Chu Văn Hưng, là một người Tàu. Một khách thương Phúc Kiến, vì chạy loạn Mông Cổ mới sang Đại Việt và trú cư ở làng Thanh Liệt. Theo qui chế làng xã Việt Nam, ông là người ngụ cư chứ không phải người làng. Mà cũng theo qui chế ấy thì người ngụ cư sau khi phải đóng góp việc làng… qua 3 đời mới được công nhận là người làng và có quyền lợi bình đẳng như người làng. Cho nên Chu Văn An cũng chưa được xem là người Thanh Liệt. Cái “mặc cảm” ngụ cư ấy trong xã hội thôn dã Việt cổ truyền là rất nặng nề, cho tới trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Theo tôi, chính do mặc cảm đó mà dân làng im lặng về ông. Do mặc cảm đó mà ông phải mở trường dạy học ở làng bên, rồi làng bên thờ ông chứ không phải là làng quê mẹ đẻ.
Khi từ quan đi ở ẩn, ông cũng vì mặc cảm ấy mà không về làng. Ngày trước, dù đi đâu ở đâu, ngày Tết cũng phải về quê lễ Tổ, thăm mộ Tổ, thăm họ hàng. Và tuyệt đại đa số quan lại Việt Nam, khi trí sĩ (về hưu) là về làng quê gốc. Đi trệch ra khỏi ứng xử truyền thống đó, phần lớn, nếu không phải là tất cả các trường hợp, là có “vấn đề” chi đó với làng với xóm.
Tôi suy luận chăng? Vì ông Trương, ông Chu là người đời Trần, cách đây 6, 7 trăm năm có lẻ, chứ có phải người đời Lê, đời Nguyễn gần đây đâu mà còn kiểm chứng được? Cũng có thể.
Song, tôi xin lấy 2 nhân vật đời Trần khác làm ví dụ (hai người thường, làm quan, không phải quí tộc Trần, vì quí tộc Trần có ấp phong, họ không về quê nhưng về ấp phong của mình. Như Trần Hưng Đạo về Vạn Kiếp, đã được xem là quê hương thứ hai).
Phạm Ngũ Lão, người đời Trần, quê ở Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên cũ (nay là Hải Hưng). Khi ông mất, nhà ông biến thành đền thờ ông, nay vẫn còn nguy nga tráng lệ, dân Hải Hưng tự hào về ông, giữ nhiều truyền thuyết về ông và có di cư ra Hà Nội (phố Lý Quốc Sư) thì vẫn rước bài vị ông ra thờ ở đền “Phù Ủng Vọng Từ”.
Trần Cụ, người đời Trần, giỏi đàn, giỏi bắn nỏ… Ông có mối hận với dân làng, như Toàn Thư chép (10) và đã thề là không bao giờ bước chân về cái làng quê ấy nữa. Sau này mối hận được giải toả, ông lại về làng nhưng đi bằng thuyền và từ thuyền ghé nhà, ngồi ngay lên phản chứ không bao giờ dẫm chân xuống đất làng quê nữa…
 *
* *
Từ chuyện Chu Văn An, tôi xin chuyển qua chuyện Nguyễn Trãi, người cũng về Côn Sơn ở ẩn như Chu Văn An mà không về quê hương Nhị Khê.
So với Chu Văn An, Ức Trai “tốt phúc” hơn, vì ở Nhị Khê còn có đền thờ Nguyễn Trãi, nhưng nếu tinh ý một chút, ta sẽ thấy ngôi đền đó khá là mới (đời Nguyễn) và vị danh sĩ tập hợp thơ văn ông thành Ức Trai Di Tập là người làng Nhị Khê và cũng là ở đời Nguyễn thôi (Dương Bá Cung). Nguyễn là thời phục hồi Nho, trọng Nho và trọng việc đề cao các bậc Đại Nho ngày trước. Nhị Khê là một làng Nho học, nhiều dòng họ ở đây có người đỗ đạt, tới Nhị Khê mà chỉ nói tới Nguyễn Trãi thôi là người làng rất khó chịu.
Đền thờ Nguyễn Trãi ở Nhị Khê
Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn
Điều ai cũng thấy là qua thơ văn Nguyễn Trãi, ông rất nặng tình với Côn Sơn. Qua mấy trăm bài thơ Hán-Nôm (11), ông nhắc đến Nhị Khê được một, hai lần, ai cũng lấy làm lạ, còn về Côn Sơn ông nhắc đến hoài hoài. “Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác“. Sau loạn ông cũng về Côn Sơn (1407-1417), bất đắc chí với triều đình, ông cũng về Côn Sơn và viết bài từ Côn Sơn Ca tuyệt bút. Trong khi đó không một bài thơ nào dành riêng cho quê hương Nhị Khê cả. Vì sao?
Tìm hiểu “lý lịch” Nguyễn Trãi, ta thấy ông người gốc Chí Linh xứ Đông. Ông nội ông, vì nghèo khó mới bỏ quê lên ở Nhị Khê. Với Nhị Khê, ông ông và bố ông vẫn là người ngụ cư. Còn ông thì phần lớn ở Thăng Long rồi ở Tây Đô (Thanh Hóa). Ông nhẹ tình với Nhị Khê cũng phải…
ĐOÀN THỊ ĐIỂM DỊCH: Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín lần gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
Bây giờ ta chuyển qua nói về Đặng Trần Côn, tác giả Chinh Phụ Ngâm Khúc (bản chữ Hán), ra đời đầu thế kỷ XVIII.
Ở đại học Yale, năm 1986, Huỳnh Sanh Thông đã dịch và xuất bản Chinh Phụ Ngâm Khúc bằng tiếng Anh. Rất gần đây tạp chí văn học Thời Tập (số 3-1990) tiếng Việt bên California có bài viết rất hay về “Mối tình tuyệt vọng của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm”.
Cả hai tài liệu đang lưu hành ở Mỹ này đều viết như ở Việt Nam rằng ông Đặng Trần Côn người làng Nhân Mục, tên nôm là làng Mọc, huyện Thanh Trì tỉnh Hà Đông (nay đã thuộc ngoại thành Hà Nội), năm sinh không rõ (khoảng 1710), đậu Hương cống, trượt thi Hội, được bổ làm Huấn đạo, 1740 triều Cảnh Hưng được thăng Tri huyện Thanh Oai rồi sau tới Ngự Sử đài. Ông mất khoảng 1745, khi mới ngoài ba chục tuổi…
Không ai biết gì hơn về Đặng Trần Côn ngoài một, hai truyền thuyết về tính ham học, phóng dật, và… ham rượu.
Về quê ông ở Nhân Mục, hẳn mọi người dựa theo bài thơ của Phan Huy Ích, có câu mở đầu:  Nhân Mục tiên sinh Chinh Phụ Ngâm- cuốn Chinh Phụ Ngâm của ông Nhân Mục. (Ngày trước người Việt hay có lối lấy tên làng quê để gọi các cụ khoa bảng như cụ Nghè Lai Thạch (Nguyễn Huy Tự), cụ Cử Văn Ấp (Trần Ngọc Lâm) v.v… )
Ở ven đô Thăng Long, dọc bờ phải sông Tô Lịch có tới 7 làng Mọc, tên chữ là Nhân Mục. Theo văn bia đời Lê Nguyễn ở đây, đã có “Nhân Mục Xã” lại còn “Nhân Mục cựu Xã”.
Tôi đã phải lần mò xuống tận Nhân Mục cựu xã, tên nôm là Mọc Thượng Đình, cũng là quê hương của cụ Tá Lan, thân sinh nhà văn Nguyễn Tuân, vì nghe nói ngôi mộ Đặng Trần Côn có kẻ làm nhà, đào đất làm lò gạch đã phạm phải. Quả thật đã có một ngôi mộ đã bị vi phạm. Bia mộ cũ có hay không thì không biết nhưng không thấy, chỉ thấy một tấm bia tương đối mới (đầu thế kỷ XX), với tên họ Đặng Trần Côn và chức danh Tri phủ.
Khi chưa đến Kẻ Mọc, tôi đã thắc mắc: Thế con cháu Đặng Trần Côn đâu mà để người ta phạm đến mộ Tổ như vậy? Khu đất này trước là bãi tha ma mộ địa, giờ đây người đông, đất chật, người ta lấn ra để làm nhà, vô tình phạm phải ngôi mộ Đặng Trần Côn tiên sinh.
Tôi lại gặp một bất ngờ: làng Mọc Nhân Mục không có họ Đặng, không còn con cháu gì của Đặng Trần Côn. Dân làng hiện nay bảo: Ông Đặng là người nơi khác, không biết ở đâu đến làng Mọc ởngụ cư. Làng Mọc là làng ven đô, vốn nổi danh giàu “Tiền làng Mọc, thóc làng Khoang” và sang “Quan Kẻ Mọc, thóc Mễ Trì“.
Chắc Đặng Trần Côn là một hàn sĩ ở đâu đó đến làng Mọc ven đô ngồi dạy học và học thêm để thi Hội (và trượt). Cũng chắc rằng sau lời tỏ tình thất bại với Đoàn Thị Điểm, tức Hồng Hà Nữ Sĩ, thi nhân họ Đặng đã không xây dựng gia đình với ai khác, lại mất tương đối trẻ (35 tuổi) nên không có con cháu nối dõi tông đường, chăm lo hương hỏa và phần mộ tổ tiên…
Ở làng Mọc còn một gia đình, gốc nhà Nho, có gia phả, còn giữ lại được một vài câu đối và liễn, tương truyền là chữ của Đặng Trần Côn tiên sinh, viết tặng cũ tổ họ Nguyễn này, vốn là bạn của Đặng tiên sinh. Con cháu cũng được truyền lại là Đặng Trần Côn tiên sinh từ nơi khác đến Kẻ Mọc ngồi dạy học và là bạn thi tửu với cụ tổ Nguyễn nhà này…
Sao mà ở xã hội Quân chủ Nho giáo Việt Nam ngày trước có nhiều bậc danh sĩ tài danh xuất thân nghèo khổ và có số phận lênh đênh như vậy? Thế thì phải xếp kẻ Sĩ vào đẳng hạng nào trong nấc thang “giai cấp”, theo cái nhìn “Mác-xít”?
Họ xuất thân “nông dân” nhưng về ý thức hệ thì lại theo Nho giáo là hệ tư tưởng của giai cấp “địa chủ” thống trị chăng?
Tôi chỉ biết trong xã hội quân chủ cũ có những người nghèo, như Nguyễn Công Trứ “than nghèo” mà rất “hay chữ” (chữ Nho, Nho giáo), trong khi có những kẻ trọc phú một chữ Hán bẻ đôi cũng không biết…
Đây là một thể nghiệm tri thức bất ngờ của tôi trong khi đi công tác điền dã ở đồng bằng Bắc bộ trong mấy năm qua.
Bất ngờ, vì tôi không dự kiến trước và cũng không định nhằm vào đó khi đi điền dã (thường trước hay trong mỗi công cuộc điền dã, tôi thường hoạch định, ít nhất là trong đầu óc, một dự tính tìm tòi nào đó, về khảo cổ, lịch sử hay là folklore…).
Bất ngờ, vì trong phạm vi sách vở mà tôi đọc được ở Việt Nam, tôi chưa thấy ai viết về vấn đề này trong tiểu sử của các vị trí thức nho gia của Việt Nam mà tôi sẽ kể ra dưới đây.
Tôi không khẳng định rằng những điều tôi viết ra dưới đây là những sự thực lịch sử (vérités historiques) – theo cái nghĩa là vì chúng đã không được ghi chép lại trong một tài liệu nào đó ở đương thời, hay ở một thời kỳ tương đối muộn hơn, trong chính sử, dã sử, hay là địa phương chí…
Đây là những lời truyền miệng dân gian, cho nên cùng lắm, chúng chỉ có thể coi là những giai thoại mà nếu không khó tính lắm, ta cũng có thể gọi là những giai thoại lịch sử.
Với tư cách là một nhà nghiên cứu dân gian học (folkloriste) chứ không phải là một nhà sử học trong trường hợp này, tôi có quyền coi chúng là những đối tượng sưu tập và nghiên cứu của mình hay đó là cái “sở tri” của tôi, với tư cách một chủ thể “năng tri”.
Nó có thể có ích trong việc nghiên cứu Folklore Việt Nam hay trong việc tìm hiểu tâm thức dân gian Việt Nam hiện vẫn còn sống động.
Nói theo kiểu Pháp, những điều tôi cố gắng ghi lại một cách trung thực qua công tác điền dã dưới đây là thật mà không chắc là thực. Ngồi rỗi ở Cornell thì viết chơi, vậy thôi…
Sau 02 thế kỷ mà hậu thế DÁM xuất bản TOÀN TẬP của cụ Lê Quý Đôn ?
Bây giờ ta chuyển sang trường hợp LÊ QUÝ ĐÔN, nhà bác học Việt Nam thế kỷ XVIII, người làng Diên Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình hiện tại. Cũng đã có quá nhiều sách báo, luận văn, hội nghị khoa học viết về ông và đề cập đến ông. Viện Sử Học Việt Nam từ nhiều năm nay chuẩn bị phiên dịch và xuất bản “Lê Quý Đôn toàn tập”.
Thế nhưng về tiểu sử Lê Quý Đôn, không một tài liệu nào cho ta biết ông là con thứ mấy hay con bà thứ mấy trong gia đình họ Lê.
Mà tôi thì tuy không phải là chuyên gia về Lê Quý Đôn và cổ sử học Việt Nam nói chung, nhưng lại hay tò mò về những chuyện “vặt vãnh” ấy.
Tôi vốn là đồ đệ của học thuyết “phân tâm học”, một thời gian dài bị các học giả “Mác-xít chính thống” phê phán kịch liệt, chủ trương rằng nhân cách con người hình thành rất sớm, từ khoảng 3-5 tuổi (13) và như thế thì “rất khó cải tạo” và môi trường đầu tiên và tối trọng yếu để hình thành nhân cách là gia đình (nay thì nền Giáo Dục Việt Nam đã tự phê bình là trong một thời gian dài xem nhẹ giáo dục gia đình khi đặt ưu tiên vào giáo dục đoàn thể xã hội). Một người dù ở “giai cấp” nào, nhưng là con trưởng hay con út, là con bà cả hay con bà thứ, theo tôi, là khá quan trọng trong việc điều chế và tự điều chế ra thế ứng xử của anh ta. Mà về những điều đó, thì trớ trêu thay, xã hội học Mác-xít lại có vẻ xem nhẹ…
Năm 1985 tôi lần đầu tiên đến thăm làng quê Lê Quý Đôn nhân một hội nghị khoa học về Lê Quý Đôn ở Thái Bình.
Trước khi đi, từ Hà Nội, tôi làm một phép thử.
Tôi viết sẵn một bản thảo về chân dung Lê Quý Đôn trong đó mặc dù không có bất cứ một tài liệu gì đã được viết ra ở Hà Nội hay ở Thái Bình quê hương ông.
Tôi cứ nêu giả thuyết Lê Quý Đôn là con bà vợ thứ của bố ông chứ không phải là con bà cả, lại cũng là con thứ, chứ không phải con trưởng.
Xuống tới thị xã Thái Bình (chưa về quê Lê Quý Đôn), tôi nộp bản thảo cho ban tổ chức hội nghị (Hội nghị khoa học về Lê Quý Đôn). Đọc bản thảo của tôi, ban tổ chức hội nghị sững sờ và dùng dằng định không sắp xếp vào chương trình hội nghị. Lý do? Thì cũng dễ hiểu thôi, vì tôi “ăn nói xưng xưng”, như thế chứ có chứng cớ gì đâu mà gọi là “khoa học” được? Cho đến bây giờ thì mọi người vẫn đinh ninh rằng Lê Quý Đôn là con trưởng của một vị tiến sĩ với một bà mẹ nghiêm chỉnh, “chính thất” cơ mà!
Nhân tiện nói: Cái đầu óc của nhiều cán bộ cộng sản có một khía cạnh tâm lý rất kỳ cục: Tâm lý sợ những cái gì không chính thống.
Nhưng tôi để ý thấy mấy cụ già là dòng dõi họ Lê Quý Đôn được cử từ quê hương Diên Hà “lên tỉnh” để “đón các đại biểu về thăm quê hương nhà bác học Lê Quý Đôn”, cùng đứng ngồi ở đó với ban Tổ Chức nhìn tôi với một vẻ là lạ, nửa ngại ngần, nửa thông cảm đồng tình.
Vốn tự coi mình là thứ khá “sành” về tâm lý và sẵn thói phóng túng, “bất cơ”, tôi bỏ ngay cái ghế của tôi ở hàng đầu “long trọng viên” (Hội nghị nào ở Việt Nam cũng có một số ghế “dành riêng” cho các đại biểu được coi là “long trọng”, cái đó vốn xuất phát từ đức tính hiếu khách, với thời gian, đã trở thành một tinh thần đẳng cấp rất đáng chê trách. Và nhiều ông “quan cách mạng” – chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – cho cái việc “ghế trên ngồi tốt sỗ sàng” (Kiều) của mình là việc rất tự nhiên).
Tôi xuống sà vào ngồi chỗ “các cụ địa phương” ở “bên dưới” hội nghị. Và dò hỏi về tung tích Lê Quý Đôn.
Sau rất nhiều ngần ngại, sau rất nhiều lần “nhìn trước nhìn sau” một già làng ở Diên Hà mới bảo tôi:
- Ông giáo sư nói đúng đấy. Đúng ra Lê Quý Đôn không phải là con trưởng đâu!
- Ô! Thế sao lâu nay các cụ cứ để cho “họ” (các cán bộ văn hóa, tuyên truyền) ăn nói, viết lách như vậy?
- Chúng tôi là Dân, “dân ngu khu đen” mà, biết thế mà không dám nói, sợ trái ý cán bộ.
Ôi, người dân quê đồng bằng Bắc bộ (Paysan du delta Tonkinois, chữ dùng của nhà địa lý học Pierre Gourou) quê tôi, sao mà họ vừa tinh khôn vừa vụng dại, vừa bướng bỉnh lại vừa chịu khuất như thế!
Chiều hôm đó về Diên Hà, tôi để mặc ban tổ chức bận bịu với những nghi thức, những lễ “dâng hương”, “tưởng niệm”… Ở nhà thờ họ Lê, tôi đi tìm gặp và hỏi chuyện “dân làng” Lê Quý Đôn. Và tôi đã thu được một lời truyền miệng dân gian rất lý thú, chưa từng ai biết, chưa từng ai viết, và hôm nay cũng là lần đầu tiên tôi viết ra:
Ông thân sinh ra Lê Quý Đôn vốn là một nhà nho nghèo và “lận đận trường qui”, mãi mà vẫn chưa đỗ đạt gì. Ông đã có một đời vợ cả, nhưng bà này không có con nên ông cụ bỏ và lấy bà khác (chắc cụ theo đạo đức Nho giáo “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại“, có ba điều bất hiếu, mà không có con nối dõi là bất hiếu nhất).
Bà này cũng không phải là mẹ Lê Quý Đôn. Bà ta sinh được hai người con trai. Lúc ấy, ông cụ cũng chưa đỗ đạt gì. Một chiều bà ra đồng làm việc, trước khi đi có dặn ông cụ ở nhà để ý trông mấy nong thóc phơi ngoài sân đất, nếu thấy có cơn mưa (chiều hè ở đồng bằng Bắc Bộ hay có mưa), thì “chạy” (cất giữ) dùm bà cụ. Ông cụ là chân học trò “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm“, mải mê đọc sách, khi có cơn mưa thật, chạy mấy nong thóc phơi không kịp, để ướt cả.
Ở ngoài đồng về sau cơn mưa, thấy thóc bị ướt sạch, bà vợ giận ông chồng lắm: “Rõ là đồ vô tích sự! Lúc nào cũng chỉ ôm lấy mấy quyển sách! Sách mà ăn được à? Mà nào có đỗ đạt được gì cho cam! Chỉ khổ thân gái già này! Tao cho rồi đói rã họng ra cho mà xem!…” Mắng ông chồng một chặp, bà vợ cho thóc ướt và nồi hông đất, nhóm lửa hong cho khô thóc. Tiện thể bà quăng luôn các sách nho của ông chồng vào lửa…
Đến thế, là gia đình tan vỡ. Ông cụ bỏ vợ, bỏ con. Ông cụ cũng bỏ làng ra đi luôn. Sau này đỗ đến ông nghè (tiến sĩ), ông cụ mới trở về làng. Thì ông ấy đã lấy bà vợ khác, con gái một cụ nghè ở tỉnh bên.
Chính bà vợ thứ ba này mới sinh ra Lê Quý Đôn nhưng ông cụ vẫn xem bà là “chính thất” (vì lẽ hai bà vợ trước ông cụ đã bỏ rồi). Và Lê Quý Đôn cũng được xem là con trai đầu!
- Thế còn hai con trai của bà vợ trước, họ là anh của Lê Quý Đôn chứ. Tôi “giả vờ” cãi lại các cụ già làng để “moi” thêm “tin tức”.
- Thế này ông giáo sư ạ. Ông cụ Nghè Lê vinh quy về làng, vẫn không “nhận” bà vợ trước. Nhưng “bỏ vợ (được) chứ không bỏ con (được)“. “Vợ mình là con người ta, suy đi tính lại chẳng bà con chi“, “Anh em như thể chân tay, vợ chồng như áo cởi ngay tức thì” (đó là mặt trái của đạo đức dân gian).
Con cái dù sao vẫn là con mình. Cho nên cụ Nghè Lê vẫn nhìn nhận 2 anh con trai đầu, nhưng lấy lẽ (vin cớ) mẹ chúng đã bị bỏ nên bắt hai anh con trai này xuống làm con thứ, phải gọi Lê Quý Đôn bằng anh cả (tôn trưởng). Vì cụ lập ông Lê Quý Đôn làm trưởng nam.
Thì ra là thế! Chỗ khúc mắc của thân phận Lê Quý Đôn là thế! Và cán bộ tỉnh theo thuyết “chính thống” cho Lê Quý Đô là con trưởng của bà vợ chính cụ Nghè Lê xem ra cũng có lý do của nó!
Tôi hỏi chuyện các cụ già làng Diên Hà thêm chút nữa:
- Thưa các cụ, thế các cụ có được truyền lại là hai ông con trai trước của cụ Nghè Lê (hai người tuy nhiều tuổi hơn Lê Quý Đôn nhưng phải gọi Lê Quý Đôn bằng anh) về sau ra sao, có học hành đỗ đạt gì không? Và Lê Quý Đôn đối xử với hai ông “em” mà lẽ ra là “anh” như thế nào ạ?
- Ấy, tiếng là được nhận lại làm con cụ nghè, nhưng hai ông con trai này cũng chẳng được cụ nghè thương yêu gì mấy, vì dốt nát. Họ cũng lớn tuổi rồi, từ khi bố bỏ nhà, bỏ làng đi, hai ông con trai này sống với mẹ, vẫng nghèo khổ thôi, cơm còn chẳng đủ ăn, lấy đâu ra của mà học hành thi cử. Nên vẫn dốt nát và vẫn làm “dân cày” như chúng tôi vậy thôi…
Có điều cụ Bảng Đôn (Lê Quý Đôn đậu bảng nhãn, vị tiến sĩ số 2 (sau trạng nguyên), nên vẫn thường được gọi là cụ Bảng) là người có “đức”, cụ đối xử tốt với hai người anh trai cùng cha khác mẹ này, vẫn nhường cho họ cả ngôi nhà dân hàng xã, hàng tổng làm cho cụ Nghè Lê với ít thửa ruộng của cụ Nghè Lê. Cụ Bảng Đôn chắc cũng giữ ý sao đó nên ít về làng, vả lại cụ làm quan to (14) nên cũng thường ở kinh đô. Dân làng Diên Hà nghe tiếng cụ Bảng nhiều thôi chứ ít được gặp cụ lắm và không biết về cụ Bảng bao nhiêu…
Những lời truyền miện dân gian này về đại thể là đúng khớp với hành trạng và tính cách Lê Quý Đôn. Khi ông về trí sĩ, ông cũng không về ở làng, và ta biết rõ là ông mất khi đang ở Quê Mẹ.
Rời quê hương Lê Quý Đôn về “tỉnh” (thị xã Thái Bình), ngày hôm sau, tại Hội nghị Khoa học về Lê Quý Đôn, tôi đã công bố, bằng miệng, lời truyền miệng dân gian mà hôm nay tôi ghi lại ở trên về một “bí mật”, một “khúc mắc”, một nét “bi kịch” trong cuộc đời nhà bác học Lê Quý Đôn.
Chuyện có vẽ “vặt vãnh” thôi, trong tổng thể đồ sộ của sự nghiệp và trước tác của Lê Quý Đôn… Nhưng với riêng tôi thì tôi rất lấy làm hài lòng vì, nói theo danh từ toán lý, phép thử của tôi đã được nghiệm đúng.
Trở về Hà Nội, bạn bè đồng nghiệp hỏi tôi rằng: Tôi không phải là chuyên gia về Lê Quý Đôn, đọc và tìm hiểu về ông này không bao nhiêu, vì sao tôi lại biết được một chi tiết tiểu sử của Lê Quý Đôn mà trước đó chưa ai biết, dù đã có những người làm luận án về Lê Quý Đôn. Thế là tôi được dịp nói về:
- Vai trò của Trực Giác Trực Quan trong nhiều phát minh, phát kiến khoa học. Có những nhà khoa học cỡ vừa phải thôi luôn luôn trình bày những phát hiện của mình như kết quả của một quá trình sưu tầm tài liệu công phu, phân tích tỉ mỉ, đối chiếu cẩn thận rồi tổng hợp khái quát cao… tóm lại là hết sức chặt chẽ trong suy lý, rất là duy lý, hợp lý, hệ thống, tổng thể. Nói đến trực giác, họ cho đó là cảm hứng nhất thời của thi nhân, nghệ sĩ, “không xài được” trong khoa học.
Nhưng ngay như nhà khoa học vĩ đại bậc nhất của thế kỷ XX Albert Einstein cũng không phủ nhận vai trò của trực giác trong những phát kiến khoa học! Trực giác nhiều khi là khởi điểm của những phát hiện khoa học lớn (15). Về khoa học cũng vậy, mà về triết học cũng vậy thôi.
Những hệ thống triết học là sự triển khai, qua khái niệm và biểu tượng của một số trực giác nguyên sơ nào đó. Nếu tất cả chúng ta ai cũng có những trực giác cơ bản ấy thì các hệ thống sẽ coi như thừa“.
(“Systems of philosophy are the elaboration, through concepts and symbols, of certain original intuitions. If all of us had these basic intuition, systems should be superfluous”) (T.R.V. Murti, In the central Philosophy of Buddhism, Ed. Ruskin House – London, 1955).
Cùng với trực giác nguyên sơ của nhà khoa học, cũng còn cái mà giáo sư Từ Chi và tôi hay nói đến là “cảm quan điền dã” rất cần thiết cho những ai đi điền dã như các nhà khảo cổ học, dân tộc học…
Riêng về trường hợp Lê Quý Đôn, tôi “bỗng dưng” nghĩ là thế (mẹ ông không phải vợ đầu, ông không phải con trưởng) khi giở sách viết về Lê Quý Đôn, đọc trong đêm trước khi đi Thái Bình thấy chi tiết ông Lê Quý Đôn mất ở quê mẹ mà không ở quê cha.
Đấy là “trực giác” nhưng sau đó thì lý giải ra thế này:
Cụ thân sinh ra Ông, rất muộn mới đỗ đại khoa, hẳn đã có vợ từ trước, khi còn trẻ, ở làng, theo phong tục Việt Nam ngày xưa. Nay thấy cụ Nghè Lê đỗ, khi vinh quy mới lấy vợ, con gái một vị tiến sĩ khác, và bà vợ này sinh ra Lê Quý Đôn, tôi suy ra đây là bà vợ sau. Thế nhưng lại không thấy sách nào chép cả, mới đâm ngờ ngợ, chờ về Diên Hà hỏi lại.
Còn vì sao mà tôi biết và tôi “cảm” nhanh như vậy (ta vẫn gọi là “mẫn cảm”) về bi kịch Lê Quý Đôn thì có lẽ là vì tôi là con cháu nhà Nho cả bên nội bố tôi lẫn bên ngoại mẹ tôi, nên có chút kinh nghiệm nghiệm sinh dù đại gia đình tôi là “Nho cuối mùa”…
Vả tôi hay đọc sách Tầu Ta về chuyện rừng nho, về các gia đình đại nho và đại quan nên cũng biết nhiều “mặt trái” của những gia đình ấy. Khi một danh nho đại quan đã “nổi tiếng”, đã “làm lớn”, và khi người sau viết tiểu sử các vị này, họ thường dấu các “mặt trái”, những nét bi kịch ấy đi.
Đó cũng là thói thường dân gian: “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại” v.v… như mấy chục năm nay, người ta chỉ nói đến, và khuếch đại nữa là đằng khác, về những mặt tốt của chế độ xã hội chủ nghĩa và bươi xấu “phương Tây tư bản đế quốc” khiến tạo ra một hình ảnh giả tạo: một bên là tấm gương “siêu sạch” (tịnh vô trần), một bên là đống rác bẩn thỉu v.v…
Nhưng ở đâu – và bao giờ còn nhân loại – thì cũng có Nhân Dân và trong nhân dân thì, từ trong chuyện cổ tích đến chính trường hiện tại, bao giờ chả có người xấu, người tốt. Trong tốt có xấu, trong xấu tối thiểu cũng có một cái gì tốt chứ, “nhân vô thập toàn” mà!
Và lối sống “hòa quang đồng trần” (hòa ánh sáng với bụi đời) của nhà Trần, của đời Trần, vẫn là cái gì tôi ưng ý hơn cả.
Từ trực giác nguyên sơ (original intuition), qua những kinh nghiệm tự thân trong công tác điền dã, qua cả những tri thức kiến văn nữa, lâu dần hình như ở trong tôi sẽ có cái có thể gọi là Trực giác Kinh nghiệm (experienced intuition), từ đó có thể khai mở những cái bị che đậy.
Những tiếng Âu Tây giành cho sự khám phá khoa học: Discovery, découverte, thì, theo tôi hiểu, đều bao hàm động tác dis-cover, dé-couvrir ngụ ý mở cái nắp đậy cái sự thực, cái cần biết ở bên trong, mà bình thường vì một tư dục, tư ý nào đó mà nó bị che lấp.
 *
* *
Tôi đã mở (đầu) bài kinh nghiệm điền dã Folklore này của mình bằng câu chuyện một vị tiến sĩ vô danh, nghĩa là không còn tên tuổi, để dẫn dắt đến câu chuyện của những người có tên tuổi.
Đến đây tôi sẽ khép (lại) bài kể lể khá dài dòng của mình bằng câu chuyện một người tuy có tên tuổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người tên tuổi (nhưng từ đầu đến cuối câu chuyện của tôi đều nói về các nhà Nho, các vị thái học sinh, tiến sĩ, bảng nhãn hay là phó bảng cả).
Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.
Phó bảng là một học vị tiến sĩ, chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1830-31). Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gửi bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã khéo dịch tên học vị của phụ thân mình là sous docteur (16), như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.
Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên nôm là làng Sen, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu Phó bảng rồi cụ đã làm Thừa biện bộ Lễ ở Huế rồi Tri huyện Bình Khê (Bình Định). Rồi bỏ quan (hay bị cách chức quan) cụ phiêu dạt vô Sài Gòn, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu… Lại phiêu lãng nữa, tới miền Tây Nam bộ, và cuối cùng mất ở Cao Lãnh (Sa Đéc nay thuộc tỉnh Đồng Tháp).
Mộ cụ Phó bảng tháng 7/1975
Khu di tích mộ cụ Phó bảng hiện nay
Mộ cụ Phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam. Người ta làm thế là vì cụ Hồ.
Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được dời xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng là vì cụ Hồ.
Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lòng Ba Đình, Hà Nội đều hiện hữu ngoài ý thức chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ông Hồ vốn được xem là người giản dị, khiêm nhường…
Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh. Nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.
Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa…
Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.
Sợ động chạm đến cụ Hồ. Một cái sợ vô nghĩa nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn trong cuốn tiểu truyện bằng tiếng Anh “Life and Death in Shanghai” (17), đã được dịch ra tiếng Việt: Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là “bí mật quốc gia”.
Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ. Cụ Nguyễn Sinh Huy. Mà cũng là truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.
Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: Ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo.
Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ), đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu lịch sử làng Quỳnh Đôi quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thái Mai, người một thời làm Bộ trưởng Giáo Dục trong chính phủ của cụ Hồ 45-46 rồi làm Viện trưởng viện Văn Học, là Hồ Thị Loan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi).
Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có phường hát ả đào.
Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc. Như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc ngâm chinh phụ: “Hồng nhan đa truân” (Gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên). Hay như Nguyễn Du than thở dùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều: “Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau“… “Rằng hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu“…
Vả ở thời ấy, dưới chế độ Quân chủ Nho giáo lấy Tứ Dân (Sĩ Nông Công Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng “Xướng ca vô loài”.
Cô Đèn, Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân – tài tử – giai nhân: “Trai tài Gái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái “chửa hoang” hạng “gian phu dâm phụ”. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà mình, nhà họ Hà phải bù đầu suy tính…
Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai là Nguyễn Sinh Thuyết, và người con trai này cũng đã có vợ).
Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này, như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ, mong ém nhém việc cô gái đã “to bụng”.
Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẻ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)”. “Miệng tiếng thế gian xì xầm”, ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời “nói ra nói vào”, lời chì chiết của nàng dâu vợ anh Thuyết, vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.
Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông, mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng “tiếng bấc tiếng chì” hơn trước vì ngoài việc bố chồng “rước của tội của nợ”, “lấy đĩ làm vợ” thì nay còn nỗi lo: Người con trai này – được ông nhận làm con – lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).
Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên 4, về ở với người anh gọi là “cùng cha khác mẹ” mà thật ra là “khác cả cha lẫn mẹ”, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng “em hờ” của chồng đi cho “rảnh nợ”.
Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ hàng chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.
May có ông Tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ăn ở riêng.
Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ, làng Chùa, hơn là với làng Sen “quê nội”, “quê cha hờ”. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi ông Cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê Mẹ hay là quê ngoại. Khi ông Tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ Hoàng. Các cháu đều quấn quít bên bà ngoại.
Qua giỗ đầu cụ tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng học điền, ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm, chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.
Nhờ sự vận động gửi gắm của ông Hồ Sĩ Tạo, người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc, với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô. (Ai cũng biết: Để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực gọi là “danh gia tử đệ”. Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà mình không dám nhận).
Nguyễn Sinh Sắc, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898) ông lại trượt.
Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901), bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngày sau) trở thành con trai út.
Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc dùm, rồi trở vào kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu Phó bảng và được “vinh quy bái tổ” về làng.
Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội, dù là quê nội danh nghĩa, tức là làng Sen – Kim Liên. Hội đồng hương lý và dân xã dựng nhà tranh 5 gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan Phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.
Thế là buộc lòng ông phải về “quê nội”. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh ngày sau), về ở quê nội, nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì “đích thực” và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông Phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.
Ngôi nhà ở làng Hoàng Trù
Ngôi nhà ở làng Kim Liên
Nhưng gia đình ông Phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy 3 năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô nhận chức quan (1904) ở bộ Lễ, đem theo hai con trai vào Huế học. Năm 1907 ông bị đổi đi Tri huyện Bình Khê… Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan, khoảng 1910), ông phiêu bạt vô Sài Gòn rồi lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa…
Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.
Người ta bảo lúc sau khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của cụ Phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.
Còn Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gặn với làng Sen! Hay là sau đó nữa chả nhẽ không khi nào cụ Phó bảng hay bà Thanh hay ông Đạt lại không kể với ông về “bí mật” của gốc tích phụ thân mình?
Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc, biết hay không biết chuyện này… Sau này khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa…
Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam, từ trí thức đến người dân quê, lại âm thầm bàn tán: Vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi “về với Các Mác, Lê Nin” năm 1969.
Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ, tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ, đã trở thành một huyền thoại. Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần gụi cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa.
Ngay sau cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả một cuốn sách (mỏng thôi) về sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp cách mạng tháng Tám. Và sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý không ưa gì cụ Hồ… Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.
Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.
Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh – tỉnh lỵ Nghệ An, cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen “quê nội” (18)!
Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?
*
* *
Tôi không muốn có bất cứ một kết luận “khoa học” gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê (19).
Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện:
“Thư bất tận ngôn, Ngôn bất tận ý”
(Viết không (bao giờ) hết lời nói,
Lời nói không (bao giờ) hết ý!)
Tháng 1-1991
GS Trần Quốc Vượng
————
(1) Trần Từ: Le village traditionnel, Etudes Vietnamiennes, Hà Nội, N#61, 1980.
(2) Lévi Strauss: Structural Anthoropology, bản dịch từ tiếng Pháp bởi Claire Jacobson và Grundfest Schvepf. New York 1963-1976.
(3) Leroi Bourhan: L’homme, hier et aujourd’hui. Recueil d’études en hommage à André Leroi Gourhan, Paris, Cujas, 1973.
(4) Về việc học và thi cử theo Nho giáo, có thể xem: Woodside Alexander, A Comarative Study of Nguyễn and Ch’ing Civil Government in a first half of Nineteenth Century, Cambridge, Mass, Harvard University Press, 1971.
(5) Lê Hữu Mục: Chu Văn An (1292-1370), Tập San Sử Địa Sài Gòn, số 27-28 tháng 7-12-1974, tr. 239-247. Theo Thơ Văn Lý Trần tập III, tr. 52-67 Chu Văn An còn để lại 12 bài thơ.
(6) Lê Tung: Việt Giám Thông khảo Tổng luận trong Đại Việt Sử ký Toàn thư.
(7) Tuổi trẻ Thủ đô, số Tết Kỷ Tỵ 1989.
(8) Truyền thuyết này đã được ghi lại đầu tiên trong Lĩnh Nam Chích Quái, trong khoảng thế kỷ XV.
(9) Carl G. Jung: The Interpretation of Nature and the Psyche, Bollingen, series I.I.
(10) Đại Việt Sử ký Toàn thư. Bản kỷ quyển 6.
(11) Nguyễn Trãi Toàn tập in lần thứ hai có sửa chữa và bổ sung. Hà Nội, Khoa Học Xã Hội, 1976.
(12) The Lạc Việt, series 3, Yale Southeast Asia Studies, 1986, Introduction VII, The art of loving, Newyork Bantam books, 1963.
(13) Thân phụ Lê Quý Đôn là Lê Trọng Thư, sinh 1694, 18 tuổi đậu Sinh đồ (như Tú tài thời Nguyễn), 19 tuổi bố mất. Sau lên Thăng Long học Vũ Thạnh. 27 tuổi đậu Hương cống (như Cử nhân đời Nguyễn), 31 tuổi đậu Tiến sĩ (1724). Lấy vợ khác họ Trương, con gái thứ ba của Tiến sĩ Hầu Tước Trương Minh Lượng, 1726 sinh Lê Quý Đôn (xem Bùi Hạnh Cẩn, Lê Quý Đôn, NXB Văn Hoá, Hà Nội, 1985).
(14) Lê Quý Đôn 1778 làm Hành Tham tụng – quyền Tể tướng. 1784 khi sắp mất, làm Thượng thư bộ Công.
(15) Schilpp, Paul Arthur: Albert Einstein, Philosopher - Scientist 2nd edition, Newyork, Tudor Pub Co, 19511. Albert Einstein, the human side: New glympses from his archives. Selected and edited by Helen Dukas and Bansh Hoffmann, Princeton, N.J. Princeton university press, 1979.
(16) Xem phụ bản bức thư này công bố trong: G. Boudarel, La Bureaucratie au Vietnam, par L’Harmattan, 1983.
Nguyễn Thế Anh: Du rêve mandarinal au chemin de la Révolution, Ho Chi Minh et l’école coloniale, La Voie nouvelle (Đường Mới) N1, Paris 6/1983, p. 13-14.
Một chút về tiểu sử Nguyễn Sinh Sắc và thời thơ ấu của Hồ Chí Minh, xin xem Sơn Tùng, Búp Sen Xanh (in lần thứ 2, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1984). Cuốn sách này tuy là “tiểu thuyết”, khi mới in lần thứ nhất, đã bị cán bộ Viện bảo tàng Hồ Chí Minh phê bình trên báo Nhân Dân là có những chi tiết không đúng sự thực lịch sử (chủ yếu là mối tình đầu của cụ Hồ).
(17) Cheng Nien: Life and death in Shanghai, Globe Crafton Books, 1986.
Trịnh Khắc Niệm: Sống và chết ở Thượng Hải, NXB. Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh 1989.
(18) Xem “Le Nghe Tinh, province natale de Ho Chi Minh“, Etudes Vietnamiennes, Hanoi, N59, 1979.
(19) Về những cách nhìn khác, chính thống hơn, lịch sử hơn, xin xem: Les lettres devant l’histoire. Etudes Vietnamiennes, Hanoi, 1979.
Riêng về Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Trãi xin xem:
- O.W. Wokters: Two essays on Đại Việt in the fourteenth century. The Lạc Việt, N9, 1979.
A stranger in his own land: Nguyễn Trãi’s Sins.
Vietnamese Poems, written during the Ming occupation. The Vietnam Forum, N8, 1986.
© Gốc Sậy 2013